PHẦN 2

Tối hôm đó, bà Vân Dung yêu cầu mọi người ngồi quanh bàn ăn. Trước mặt bà là thông cáo của bảo tàng, một tập bài báo và quyết định đình chỉ tạm thời của Thư An.

Khải Minh ngồi bên phải mẹ. Quốc Huy không có mặt, song tên ông xuất hiện trên các giấy tờ với tư cách người lập báo cáo sơ bộ. Thư An đặt bản sao biên bản năm trang lên bàn.

Vân Dung nói quỹ đã mất hai nhà tài trợ, một đoàn khách hủy lịch và hội đồng cần người chịu trách nhiệm trước sáng hôm sau.

“Cô chỉ cần thừa nhận quy trình có thiếu sót trong thời gian cô phụ trách,” bà nói. “Không ai yêu cầu cô nhận chuyện đánh tráo. Một lời nhận trách nhiệm quản lý sẽ giúp mọi người có thời gian xử lý.”

Vân Dung đẩy sang tờ giấy soạn sẵn: Thư An không bảo đảm giám sát liên tục, chấp nhận hồ sơ bàn giao được hoàn tất sau thời điểm thực tế và tự nguyện tạm ngừng hành nghề.

“Ba câu này biến một điều chưa được kiểm tra thành lời thừa nhận,” Thư An nói. “Tôi không ký.”

Khải Minh khuyên cô đừng nhìn văn bản như luật sư. Cô đáp rằng chính vì không phải luật sư nên cô chỉ ký điều mình trực tiếp biết. Cô biết mình rời xưởng lúc mười chín giờ bốn mươi. Cô biết bảng bàn giao ghi hai mươi mốt giờ mười. Cô biết chữ ký trên đó chưa được đối chiếu với bản gốc. Ngoài ba điều ấy, chưa ai cho cô xem dữ liệu camera, lịch mở cửa hay danh sách người có mặt.

Vân Dung gõ đầu ngón tay lên bàn. “Cô đang ám chỉ bảo tàng che giấu?”

“Tôi đang nói hồ sơ chưa đủ.”

Khải Minh nói bảo tàng cần khoảng cách với người đang bị nhắc tên. Anh đã đặt cho cô một phòng ở nhà khách trong ba đêm; việc cô ở lại căn hộ sẽ khiến truyền thông khó kiểm soát hình ảnh.

Thư An mất vài giây mới hiểu anh đang yêu cầu cô rời khỏi nhà của mình. “Anh muốn em đi vì an toàn, hay vì thông cáo sẽ dễ viết hơn nếu chúng ta sống riêng?”

Khải Minh không trả lời trực tiếp. Anh nói đây chỉ là tạm thời, cho đến khi cuộc kiểm tra nội bộ kết thúc. Vân Dung chen vào rằng một người thực sự nghĩ cho chồng sẽ không ép anh lựa chọn giữa gia đình và sự nghiệp.

Thư An không mang tờ thỏa thuận. Cô bảo Khải Minh gửi mọi đề nghị bằng email và nói trước hết cô cần giữ nguyên những gì mình đã thấy.

Về căn hộ, cô có bốn mươi phút lấy quần áo, máy tính cá nhân và thuốc. Trước mặt Khải Minh, cô chứng minh ổ cứng chỉ chứa ảnh gia đình và không lấy máy tính công việc.

Trước khi đóng vali, Thư An tìm thấy trong túi áo khoác tờ biên nhận gửi xe tối hôm trước. Máy in trên vé ghi xe cô rời tầng hầm bảo tàng lúc mười chín giờ năm mươi hai. Con số muộn hơn giờ cô ghi trong sổ mười hai phút, nhưng vẫn sớm hơn thời điểm bàn giao một giờ mười tám phút. Cô đặt vé vào túi nhựa trong suốt, chụp hai mặt cùng đồng hồ hệ thống của điện thoại rồi gửi bản ảnh vào hộp thư cá nhân.

Khải Minh nhìn thao tác ấy. “Em đang lập hồ sơ chống lại anh sao?”

“Em đang giữ một vật có ngày giờ trước khi nó thất lạc.”

Anh nói câu trả lời của cô khiến mọi thứ giữa họ giống một cuộc điều tra. Thư An kéo khóa vali. “Từ sáng nay, người khác đã biến cuộc đời em thành một hồ sơ. Em chỉ không để hồ sơ đó có một phía.”

Tại nhà khách, Thư An nhận email đình chỉ có hiệu lực ngay: cô bị cấm vào hệ thống, phòng phục chế và kho lưu trữ, đồng thời phải giao nộp dữ liệu thuộc sở hữu bảo tàng.

Cô đọc kỹ danh sách đính kèm. Danh sách ghi một máy ảnh chuyên dụng, hai thẻ nhớ, khóa tủ hóa chất và “sổ phục chế gốc”. Máy ảnh cùng thẻ nhớ vẫn ở tủ thiết bị. Khóa đã nằm trong túi niêm phong sáng nay. Riêng cụm “sổ phục chế gốc” khiến cô dừng lại. Cuốn sổ bìa vải bị giữ tại xưởng là sổ công việc cá nhân, không phải hồ sơ phục chế chính thức. Hồ sơ chính thức được nhập trên hệ thống và in định kỳ thành tập có mã tài sản.

Thư An xác nhận đã nhận thông báo, yêu cầu mô tả từng tài sản và không xác nhận sổ cá nhân thuộc bảo tàng. Cô đề nghị mọi lần mở niêm phong phải có người chứng kiến độc lập.

Chưa đầy năm phút sau, quyền truy cập hộp thư công việc của cô bị cắt. Màn hình đăng nhập chuyển sang thông báo tài khoản không tồn tại. Thư An chụp lại thời gian, nhưng không cố đăng nhập lần hai. Việc thử quá nhiều lần có thể bị diễn giải thành cố truy cập sau đình chỉ.


Sáng hôm sau, đại diện nhân sự gửi bản kiểm kê mới. Khóa tủ và thẻ ra vào được ghi là đã niêm phong lúc chín giờ mười lăm. Cuốn sổ được ghi lúc mười giờ linh bảy. Máy ảnh và thẻ nhớ lại không có thời điểm. Dưới bảng là chữ ký điện tử của Quốc Huy, dù biên bản sáng hôm trước ghi một nhân viên an ninh là người tiếp nhận.

Chúng chưa chứng minh ai làm sai, chỉ cho thấy hồ sơ được hoàn thiện ở nhiều thời điểm nhưng trình bày như một chuỗi liên tục. Thư An lập bảng ba cột: điều trực tiếp biết, điều tài liệu tuyên bố và điều thiếu nguồn xác nhận.

Buổi trưa, bảo tàng lập tổ kiểm tra nội bộ do quỹ đề cử. Tên Vân Dung không xuất hiện, nhưng cả ba thành viên làm việc cho đơn vị nhận tài trợ từ quỹ. Thông cáo tiếp tục gọi Thư An là “phục chế viên chịu trách nhiệm cuối cùng”.

Khải Minh nhắn rằng anh không viết cụm đó. Anh chỉ chuyển bản đã được duyệt. Thư An hỏi ai duyệt, nhưng tin nhắn hiện đã đọc mà không có trả lời.

Chiều xuống, cô nhận được ảnh chụp cánh cửa xưởng từ một đồng nghiệp không ghi lời nhắn. Hai dải niêm phong mới chạy chéo trên khóa. Mã in trên dải không trùng mã cô đã ghi sáng hôm trước. Cô phóng to ảnh, kiểm tra thời gian gửi rồi lưu nguyên tệp, không hỏi người gửi đã chụp bằng cách nào.

Thư An chưa biết dải cũ được thay lúc nào, vì sao hay ai chứng kiến. Vì vậy, cô không viết “niêm phong bị tráo”, chỉ ghi: “Mã ngày đầu và mã trong ảnh ngày sau không giống nhau; thiếu biên bản mở và tái niêm phong.”

Trong chưa đầy ba mươi sáu giờ, Thư An mất nơi làm việc, chỗ ở và quyền tự giải thích bằng hồ sơ của mình. Nhưng cô vẫn phân biệt được điều đã biết với điều chỉ bị người khác kể lại. Đó là thứ duy nhất họ chưa thể đình chỉ.