PHẦN 5

Hai ngày sau, hội nghề nghiệp gửi cho Thư An một thông báo khác với những văn bản cô đã nhận từ đầu vụ việc. Thư không yêu cầu cô giải trình thêm, cũng không nhắc lại thông cáo của bảo tàng. Hội cho biết đã ủy nhiệm Luật sư Diệp Chi tiếp nhận và bảo toàn các tài liệu có liên quan đến quá trình xem xét chứng nhận hành nghề. Mọi tài liệu từ thời điểm này phải đi qua một quy trình do luật sư quản lý độc lập.

Thư An không biết Diệp Chi và cũng không đề nghị hội chọn người này. Điều đó khiến cô yên tâm hơn một lời giới thiệu riêng. Cuộc gặp diễn ra tại hội, có nhân viên hành chính chứng kiến.

Diệp Chi đến đúng giờ trong áo khoác màu kem và sơ mi xanh đậm. Chị đặt lên bàn hai bộ biểu mẫu còn để trống, một thiết bị lưu trữ mới nguyên niêm phong và một máy tính không kết nối mạng. Trước khi hỏi Thư An bất kỳ điều gì, chị giải thích phạm vi ủy nhiệm.

“Tôi không đại diện cho bảo tàng, cũng không làm người xác nhận rằng cô đúng,” Diệp Chi nói. “Tôi bảo toàn những gì hội được phép xem xét. Giá trị của từng tài liệu sẽ do đúng cơ quan và đúng chuyên môn đánh giá sau.”

Thư An hỏi liệu cô có quyền giữ bản gốc tài liệu cá nhân hay không. Diệp Chi trả lời có, trừ khi một quyết định hợp lệ yêu cầu khác. Quy trình chỉ tạo bản sao bảo toàn, không thu thiết bị, mật khẩu hay biến sổ cá nhân thành tài sản của hội.

Trên bàn, Diệp Chi chia tài liệu thành bốn nhóm: văn bản bảo tàng đã gửi chính thức; thư điện tử do Thư An trực tiếp nhận hoặc gửi; ảnh và hóa đơn thuộc thiết bị cá nhân; bảng thời gian do chính Thư An lập sau khi bị đình chỉ. Chị yêu cầu mỗi nhóm phải ghi rõ nguồn, người đang giữ bản gốc và giới hạn của nó.

“Bảng của cô là ghi chép sau sự kiện,” chị nói khi xem danh sách mã niêm phong. “Nó có ích để tìm tài liệu cần yêu cầu, nhưng không tự trở thành bằng chứng rằng một niêm phong đã bị thay sai quy trình.”

Thư An gật đầu. Cô đã chờ một người phân biệt những điều ấy mà không biến sự thận trọng thành lý do bác bỏ mọi câu hỏi.

Diệp Chi mở niêm phong thiết bị lưu trữ trước mặt nhân viên hội và ghi số sê-ri vào biên bản. Từng tệp được sao chép, giữ nguyên tên, ngày sửa và cấu trúc thư mục. Sau mỗi nhóm, máy tính tạo mã băm; Thư An cùng người chứng kiến đối chiếu rồi ký trang kiểm kê.

Hai phiên bản “Biên bản bàn giao bổ sung” được nhập thành hai mục riêng. Diệp Chi không gọi một bản là thật, bản kia là giả. Chị ghi rằng chúng có cùng số văn bản nhưng khác dữ liệu hiển thị và khác nội dung ở phần người chứng kiến cùng mô tả cuốn sổ. Hai tệp bàn giao bị thiếu cũng được ghi là “có trong chuỗi thư do người nộp giữ, chưa thấy trong danh mục bảo tàng cung cấp”, không phải “đã bị xóa”.

Đến cuốn sổ bìa vải, Diệp Chi chỉ nhận bản mô tả nguồn gốc và những ảnh đã có từ trước. Chị từ chối sao chép các trang chứa số điện thoại, lịch khám và ghi chép không liên quan. Phần được bảo toàn gồm hóa đơn mua sổ, ảnh bìa có vết sờn, ảnh trang đầu ghi “sổ công việc cá nhân” và danh sách những trang nghề nghiệp Thư An nhớ đã viết.

“Chúng ta bảo toàn phạm vi tranh chấp, không thu gom đời tư để làm hồ sơ dày hơn,” chị nói.

Sau giờ nghỉ, Diệp Chi soạn ba yêu cầu bảo toàn. Yêu cầu thứ nhất gửi bảo tàng, đề nghị giữ nguyên bản gốc và lịch sử phiên bản của mọi danh mục bàn giao, biên bản mở xưởng, bản ghi niêm phong cùng thư chuyển tiếp liên quan. Yêu cầu thứ hai gửi hội nghề nghiệp, đề nghị tách gói tài liệu đã nhận lúc mười bảy giờ bốn mươi khỏi các tài liệu bổ sung sau đó, không ghi đè thành một bộ duy nhất. Yêu cầu cuối cùng gửi đơn vị quản trị hệ thống độc lập của hội, đề nghị lưu bản chỉ đọc và nhật ký truy cập đối với toàn bộ tài liệu hội dùng trong phiên xem xét.

Thư An hỏi vì sao chưa yêu cầu bảo tàng giao ngay cuốn sổ. Diệp Chi đáp quyền sở hữu và quyền sử dụng đang bị tranh luận; một yêu cầu quá rộng có thể khiến mọi bên sa vào tranh cãi về đồ vật mà bỏ qua việc bảo toàn lịch sử của nó. Trước mắt, bảo tàng phải được thông báo không sao chụp, chỉnh sửa hoặc công bố nội dung riêng tư ngoài phạm vi cần thiết.

Chiều muộn, văn phòng quỹ bảo trợ trả lời rằng hội nghề nghiệp không có quyền can thiệp vào kiểm tra nội bộ. Diệp Chi không tranh luận về kết luận của họ. Chị gửi lại giấy ủy nhiệm, chỉ rõ yêu cầu bảo toàn không đòi giao quyền kiểm soát và không ngăn bảo tàng tiếp tục công việc. Nó yêu cầu các phiên bản đang tồn tại không bị hợp nhất, đổi tên hay loại bỏ khi cuộc xem xét chứng nhận đang diễn ra.

Phạm Quốc Huy gửi một thư riêng, nói danh mục đã được “chuẩn hóa để dễ sử dụng” và các khác biệt chỉ là cách trình bày. Diệp Chi đưa thư vào hồ sơ như một phản hồi của bên quản lý, không xem đó là lời giải thích đã được kiểm chứng. Chị yêu cầu cung cấp quy tắc chuẩn hóa, người thực hiện, thời điểm thực hiện và bản trước khi chuẩn hóa.

Khải Minh gọi cho Thư An khi buổi làm việc gần kết thúc. Anh nói việc đưa luật sư vào sẽ khiến bảo tàng phải chuyển sang thái độ đối đầu. Thư An nhìn Diệp Chi, nhưng chị không ra hiệu phải nói gì.

“Em không chọn luật sư,” Thư An đáp. “Hội chọn người giữ hồ sơ cho việc họ đang xem xét.”

Khải Minh hỏi liệu cô đã giao nhật ký cho bên ngoài hay chưa. Cô nói mình chỉ cung cấp các bản thuộc quyền giữ hợp pháp theo một biên bản có giới hạn. Anh im lặng rồi nhắc mẹ anh cho rằng cô đang cố làm tổn hại danh tiếng quỹ. Thư An không trả lời nhận xét ấy. Cô đề nghị anh lưu lại mọi văn bản mà bộ phận truyền thông đã nhận về thời điểm mở xưởng và danh mục bàn giao.

“Tại sao anh phải làm vậy?”

“Vì nếu chúng giống nhau, việc bảo toàn không làm hại ai.”

Cuộc gọi kết thúc mà không có lời chào.

Trước khi rời phòng, Thư An nhận biên nhận ghi mã, nguồn, tình trạng bản gốc và người chịu trách nhiệm giữ. Thiết bị được đặt vào túi chống can thiệp, niêm phong rồi cất trong tủ của hội. Chìa khóa và mã mở tủ do hai người quản lý. Diệp Chi giữ bản kiểm kê pháp lý; Thư An chỉ giữ bản sao đóng dấu tiếp nhận.

Diệp Chi nhắc lại rằng chưa tài liệu nào chứng minh bức tranh đã bị đánh tráo bằng cách nào, ở đâu hoặc bởi ai. Công việc hôm nay chỉ bảo đảm rằng ngày mai không ai có thể biến hai phiên bản thành một mà không để lại câu hỏi.

Thư An bước ra khỏi trụ sở hội khi trời vừa tối. Lần đầu tiên kể từ lúc xưởng bị niêm phong, những gì cô giữ không còn phụ thuộc vào chiếc vali dưới giường hoặc trí nhớ của riêng cô. Chúng cũng không thuộc quyền điều khiển của cô nữa.

Sự bất tiện ấy làm cô thấy an toàn. Một chuỗi bảo quản chỉ có ý nghĩa khi ngay cả người mong nó chứng minh điều gì cũng không thể tự ý sửa nó.