PHẦN 6

Ba ngày sau buổi lập kho hồ sơ, Diệp Chi báo cho Thư An rằng một bộ vi mẫu đã được chuyển tới phòng thí nghiệm vật liệu bảo tồn nơi Đỗ Mỹ Linh làm việc. Chị chỉ gửi địa chỉ, giờ tiếp nhận và số hồ sơ. Không có ảnh mẫu, mô tả màu hay nhận định kỹ thuật nào đi kèm.

Vi mẫu không do Thư An yêu cầu lấy và cô cũng không được chọn vị trí lấy mẫu. Theo văn bản Diệp Chi đọc cho cô nghe, việc lấy mẫu đã được phê duyệt trong phạm vi kiểm tra hiện trạng, có đại diện bảo tàng chứng kiến và được ghi thành từng mục riêng. Vai trò của Diệp Chi bắt đầu từ lúc túi vận chuyển được niêm phong, không thay thế trách nhiệm của người lấy mẫu hay phòng thí nghiệm.

Phòng tiếp nhận nằm sau hai lớp cửa kính. Mỹ Linh xuất hiện trong áo phòng thí nghiệm màu xám đá, thẻ xanh đeo trước ngực và kính tròn. Cô chào Thư An rồi nói ngay rằng quan hệ quen biết nghề nghiệp giữa họ sẽ được ghi vào hồ sơ. Nếu quy định của đơn vị yêu cầu, cô sẵn sàng rút khỏi phần phân tích và để một chuyên viên khác thực hiện.

“Chị không nhờ em kết luận điều gì,” Thư An nói.

“Em biết. Nhưng việc đó phải được ghi bằng thủ tục, không dựa vào việc chúng ta biết nhau.”

Diệp Chi đưa giấy ủy nhiệm và đứng ngoài vạch giới hạn của khu nhận mẫu. Thư An được quan sát qua cửa kính nhưng không được vào bàn thao tác. Cô không cầm túi, không đọc nhãn ở khoảng cách gần và không đề nghị mở bất kỳ ống nào.

Hai nhân viên tiếp nhận đặt hộp vận chuyển dưới camera cố định. Mỹ Linh đọc số niêm phong trên hộp, đối chiếu với phiếu chuyển và yêu cầu người thứ hai đọc lại độc lập. Một ký tự trên bản in bị nhòe. Thay vì đoán, cô dừng quy trình, gọi cho đầu mối đã phát hành phiếu và yêu cầu xác nhận bằng văn bản. Chỉ khi bản xác nhận được đưa vào hệ thống, việc tiếp nhận mới tiếp tục.

Bên trong hộp có các ống vi mẫu đánh mã, một mẫu trắng kiểm soát và một mẫu vật liệu tham chiếu. Mỹ Linh không đọc tên vị trí lấy mẫu thành tiếng trước mặt Thư An. Cô chỉ xác nhận số lượng vật chứa trùng với danh mục và mỗi ống còn đóng kín. Tình trạng bao bì, tem, vết gấp của túi và nhiệt độ chỉ thị khi đến nơi đều được ghi lại trước khi đưa vào kho tạm.

Một ống có nhãn hơi lệch nhưng tem chưa rách. Mỹ Linh chụp tình trạng đó, ghi là quan sát khi tiếp nhận và không suy diễn nguyên nhân. Cô nói mọi sai khác bề ngoài phải được phân biệt với việc vật chứa đã bị mở. Dòng ghi chú không dùng các từ “can thiệp” hay “an toàn tuyệt đối”; nó chỉ mô tả những gì camera và hai người cùng nhìn thấy.

Sau khi hoàn tất kiểm đếm, hệ thống phòng thí nghiệm cấp mã tiếp nhận riêng cho từng ống. Mã dự án của bảo tàng không được dùng làm mã phân tích duy nhất. Danh sách liên kết giữa mã phòng thí nghiệm và mã trên túi được đặt trong hồ sơ hạn chế quyền truy cập, để người thao tác sau đó không tự động nhìn thấy tranh chấp giữa các bên.

Mỹ Linh giải thích với Diệp Chi rằng mẫu trắng và mẫu tham chiếu sẽ đi cùng quy trình để kiểm soát nhiễm bẩn và sai lệch thiết bị. Nếu phải chia vi mẫu, việc chia chỉ thực hiện sau khi cân, chụp và ghi tình trạng; mỗi phần mới sẽ có mã, vật chứa và người chịu trách nhiệm riêng. Phần dự phòng, nếu còn đủ, phải tiếp tục niêm phong chứ không được dùng để lặp phép đo theo yêu cầu miệng.

Diệp Chi hỏi ai có quyền nhận kết quả. Mỹ Linh chỉ vào danh sách phân quyền: phòng thí nghiệm phát hành báo cáo theo điều khoản của quyết định kiểm tra; bản hoàn chỉnh được khóa bằng chữ ký số và gửi đồng thời tới đầu mối đã được chỉ định. Thư An không thể gọi riêng để xin số liệu sớm. Bảo tàng cũng không thể yêu cầu sửa cách diễn đạt ngoài quy trình phản hồi kỹ thuật được lưu vết.

Thư An thấy nhẹ nhõm vì điều đó. Cô không muốn nghe một câu nói hành lang rồi phải mang nó như một bằng chứng. Càng không muốn Mỹ Linh vì tin cô mà nhìn một con số theo hướng đã có sẵn.

Khi hộp mẫu được chuyển vào tủ kiểm soát, Mỹ Linh thay găng và cùng nhân viên thứ hai ký biên bản tiếp nhận. Camera ghi thời điểm cửa tủ đóng. Một bản biên nhận chỉ gồm số lượng, mã niêm phong, tình trạng vật chứa và mã tiếp nhận được chuyển cho Diệp Chi. Bản này không có kết quả và cũng không mô tả chất liệu của vi mẫu.

Ngoài hành lang, Diệp Chi đưa Thư An xem đúng phần cô được quyền thấy. Chị nhắc rằng phòng thí nghiệm đã nhận một bộ vật chứng theo thủ tục không đồng nghĩa bộ mẫu đại diện hoàn hảo cho toàn bộ tác phẩm. Nguồn lấy, tính đại diện và ý nghĩa chuyên môn sẽ phải được trình bày riêng khi đến đúng giai đoạn.

Điện thoại của Diệp Chi nhận một thư từ văn phòng bảo tàng, hỏi thời điểm sớm nhất có thể có báo cáo sơ bộ để “phục vụ truyền thông”. Chị trả lời rằng không có báo cáo sơ bộ dành cho truyền thông. Mọi kết quả, nếu được phát hành, phải đi qua danh sách nhận đã khóa và kèm giới hạn phương pháp.

Thư An không hỏi ai đã gửi thư. Việc cần thiết lúc này không phải tìm thêm một dấu hiệu để nghi ngờ, mà là giữ cho quá trình phân tích không bị biến thành cuộc chạy đua giành câu đầu tiên.

Trước khi chia tay, Mỹ Linh đứng ở bên kia cửa kính, giơ bản biên nhận đã ký để Diệp Chi đối chiếu số cuối. Cô không gật đầu báo hiệu tốt hay xấu. Thư An cũng không tìm kiếm điều đó trên gương mặt bạn mình.

Các vi mẫu đã vào phòng thí nghiệm với mã riêng, mẫu kiểm soát, lịch sử tiếp nhận và giới hạn truy cập. Chúng chưa nói lên điều gì về bức tranh. Chính vì chưa ai được phép bắt chúng nói sớm, lần đầu tiên Thư An tin rằng khi kết quả xuất hiện, nó sẽ không chỉ là lời của người nhanh tay nhất.