PHẦN 8

Ba ngày sau khi hãng bảo hiểm khóa kho ảnh, Diệp Chi nhận một cuộc gọi từ số máy bàn. Người gọi tự giới thiệu là Trịnh Công Sơn, thợ làm khung đã nghỉ nghề. Ông nói từng thực hiện bộ khung căng cho bức tranh nhiều năm trước và vẫn giữ sổ giao việc cùng bản vẽ trong kho riêng.

Diệp Chi không hỏi ông nhận ra điều gì từ những hình ảnh đang lan truyền. Chị chỉ xác minh tên, địa chỉ xưởng cũ và đề nghị ông không gửi tài liệu qua ứng dụng nhắn tin. Nếu hồ sơ còn nguyên, hội nghề nghiệp sẽ cử người đến lập danh mục tại nơi ông đang giữ chúng.

Thư An nghe tin qua một thông báo ngắn. Cô nhớ cái tên Công Sơn từng xuất hiện trong hồ sơ bảo tồn cũ, nhưng chưa gặp ông. Diệp Chi không cho cô gọi trước. Lời kể của người thợ phải được ghi từ trí nhớ và tài liệu của chính ông, không qua câu hỏi dẫn dắt của người đang bị buộc trách nhiệm.

Xưởng cũ nằm sau căn nhà nhỏ ở ngoại ô. Công Sơn mở cửa trong chiếc áo chàm bạc màu và tạp dề be còn dính bụi gỗ. Mái tóc trắng, gương mặt gầy hiền nhưng cách ông kiểm tra giấy ủy nhiệm rất cẩn thận. Ông yêu cầu biên bản ghi rõ hội chỉ lập bản sao; sổ và bản vẽ gốc vẫn thuộc kho nghề của ông.

Kho lưu trữ là một tủ sắt có ngăn đánh theo năm. Công Sơn tự mở tủ trước camera, lấy ra một hộp bìa đã ngả màu rồi đặt lên bàn sạch. Ông không rút riêng tài liệu nào để đưa trước. Diệp Chi cùng nhân viên hội chụp tình trạng hộp, số ngăn và thứ tự các tập giấy trước khi kiểm kê.

Trong hộp có sổ giao việc, hóa đơn gỗ, bản vẽ kích thước và vài ảnh chụp quá trình lắp khung. Công Sơn giải thích hệ thống ký hiệu của xưởng: mã khách hàng, mã đơn việc, loại vật liệu và ngày bàn giao. Ông chỉ giải thích cách đọc, chưa đối chiếu chúng với hiện trạng bức tranh.

Một dòng trong sổ ghi đúng tên tác phẩm và đơn vị đặt hàng. Bản vẽ đi kèm có dấu chì, kích thước và ghi chú tay về cấu tạo khung căng. Diệp Chi hỏi ai đã viết. Công Sơn nhận phần chữ của mình và chỉ ra một dấu kiểm của người phụ việc đã nghỉ từ lâu. Ông không khẳng định mọi nét mực đều được viết cùng ngày; thay vào đó, ông mô tả quy trình xưởng thường hoàn thiện hồ sơ qua từng bước.

Thư An ngồi ở đầu bàn bên kia. Cô không hỏi về loại mộng, số thanh hay vị trí dấu nghề. Những chi tiết ấy có thể trở thành dữ liệu kỹ thuật ở phiên sau, nhưng hôm nay nhiệm vụ chỉ là chứng minh tài liệu đến từ đâu và đã được giữ thế nào.

Mỗi trang liên quan được chụp cả mặt trước, mặt sau và mép giấy. Ảnh số tạo ra được ghi mã băm ngay tại xưởng. Nhân viên hội lập danh sách liên kết giữa ảnh và vị trí của bản gốc trong hộp. Công Sơn ký xác nhận nguồn lưu trữ, còn Diệp Chi ký từ thời điểm tiếp nhận bản sao. Không ai mang bản gốc ra khỏi nhà ông.

Đến tập ảnh cũ, Công Sơn dừng lại vì một phong bì đã bong keo. Ông không tự dán lại. Tình trạng được ghi vào biên bản trước khi ảnh được lấy ra bằng găng. Mặt sau từng ảnh có mã đơn việc và ngày rửa ảnh. Diệp Chi yêu cầu chụp nguyên cả mặt sau, nhưng không cho sắp xếp ảnh theo một giả thuyết nào về vụ việc hiện tại.

Công Sơn nói ông biết cuộc tranh cãi qua báo chí. Một phóng viên đã gọi hỏi liệu khung đang trưng bày có phải sản phẩm xưởng ông hay không. Ông từ chối trả lời vì chỉ nhìn ảnh báo chí không đủ căn cứ.

“Tôi có thể nói tôi từng làm gì và giấy của tôi ghi gì,” ông nói. “Còn thứ đang ở bảo tàng phải được người có trách nhiệm xem trực tiếp.”

Câu trả lời được ghi nguyên văn. Nó không minh oan cho Thư An, cũng không buộc tội ai. Nhưng nó xác lập rằng một nguồn hồ sơ độc lập đã tồn tại từ trước tranh chấp và không nằm trong hệ thống do bảo tàng quản lý.

Buổi kiểm kê gần kết thúc thì văn phòng hội nhận được yêu cầu từ bảo tàng muốn Công Sơn gửi bản gốc để “đối chiếu nhanh”. Diệp Chi trả lời việc chuyển bản gốc chưa cần thiết. Bản sao có chứng thực sẽ được cung cấp theo phạm vi phiên rà soát; nếu cần kiểm tra vật mang tin, việc đó phải có lịch, địa điểm và người chịu trách nhiệm riêng.

Công Sơn đồng ý tham dự phiên rà soát nhưng yêu cầu lời trình bày của ông chỉ giới hạn ở hồ sơ xưởng và tập quán làm nghề. Ông không nhận vai chuyên gia sắc tố, không bình luận ảnh hồng ngoại và không xác định ai đã tiếp cận tác phẩm sau khi nó rời xưởng.

Trở lại trụ sở hội, Diệp Chi nhập bộ bản sao vào kho pháp lý dưới một mã độc lập. Nó không được ghép với vi mẫu của Mỹ Linh hay kho ảnh của Thành Nam. Ba nguồn chỉ gặp nhau trong danh mục phiên rà soát, nơi mỗi người phải tự trình bày phạm vi và giới hạn của tài liệu mình quản lý.

Chiều hôm đó, hội nghề nghiệp thông báo tổ chức phiên rà soát công khai có giới hạn. Bảo tàng, phòng thí nghiệm, hãng bảo hiểm, Công Sơn và Thư An đều được mời. Nội dung dự kiến gồm chuỗi bảo quản, nguồn tài liệu và kế hoạch kiểm tra kỹ thuật. Chưa bên nào được công bố kết luận trước phiên.

Khải Minh gọi hỏi Thư An có đứng sau việc mời báo chí hay không. Cô nói phiên rà soát do hội quyết định và danh sách người quan sát chưa được công bố. Anh cảnh báo mẹ mình xem việc này là hành động làm mất mặt bảo tàng.

“Em không điều khiển được những hồ sơ nằm ở phòng lab, hãng bảo hiểm hay xưởng của ông Sơn,” Thư An đáp. “Đó chính là lý do chúng cần được nghe.”

Tối ấy, Diệp Chi gửi cho cô bản lịch trình, không gửi bản vẽ hay ảnh cũ. Thư An chỉ thấy bốn dòng: nguồn phòng thí nghiệm, nguồn bảo hiểm, nguồn thợ khung và phản hồi của bảo tàng.

Cô chưa biết những nguồn ấy khi đặt cạnh nhau sẽ nói gì. Nhưng lần đầu tiên, câu trả lời không còn được viết sẵn trong một biên bản hoàn thiện trước khi người chứng kiến bước vào phòng.