PHẦN 4

Ba ngày sau trận lũ, Vũ Lam Anh nhận được thư mời làm việc từ tổ xác minh liên ngành. Thư yêu cầu cô có mặt vào sáng hôm sau nhưng không nói cô được xem tài liệu nào, cũng không nêu cách phản hồi nếu muốn có người hỗ trợ pháp lý. Cùng lúc, cổng hành chính báo bốn yêu cầu bảo toàn của cô đã được chuyển tới các đơn vị quản lý dữ liệu, vẫn chưa xác nhận tình trạng thực tế của hồ sơ.

Máy trạm, sổ ca và hệ thống phát hành đều nằm trong tay các đơn vị đang giải trình. Cuốn ghi nhớ của Lam Anh chỉ phản ánh trí nhớ sau sự kiện. Nếu tới buổi làm việc mà không có quy tắc tiếp nhận, ranh giới giữa bản gốc, bản sao và lời kể có thể bị xóa nhòa.

Cô gọi tới hội khoa học khí tượng của tỉnh, không kể chi tiết vụ việc mà hỏi danh sách người hỗ trợ thủ tục độc lập. Sau hai lần chuyển máy, thư ký giới thiệu Lê Diệu Linh, luật sư công ích từng làm việc với các vụ an toàn cộng đồng. Lam Anh gửi cho Diệu Linh đúng ba tài liệu cô có quyền sở hữu: quyết định đình chỉ, email mời làm việc và biên nhận các yêu cầu bảo toàn. Cô không gửi ảnh màn hình nội bộ hay dữ liệu trạm.

Diệu Linh hẹn gặp tại phòng tư vấn của hội khoa học. Người phụ nữ mặc blazer xanh sẫm, đặt một máy ghi âm còn tắt và hai phong bì niêm phong trống lên bàn.

“Trước khi nghe nội dung,” Diệu Linh nói, “tôi cần phân loại thứ chị đang có. Tài liệu nào do cơ quan cấp, tài liệu nào hệ thống tự gửi, tài liệu nào chị lập sau sự kiện?”

Lam Anh lần lượt chỉ từng nhóm. Diệu Linh không hỏi ai đã sửa bản tin hoặc vì sao Hoàng Phúc và Mỹ Duyên hạ mức cảnh báo. Cô chỉ hỏi thời điểm Lam Anh nhận tài liệu, chúng đã đi qua thiết bị nào và có ai giữ bản sao hay không.

Cuốn ghi nhớ được đặt riêng. Diệu Linh đọc dòng cảnh báo ở trang đầu rồi gật đầu. “Chị đã ghi đúng rằng đây là hồi ức chưa đối chiếu. Đừng gọi nó là nhật ký ca trực và đừng sửa câu cũ cho trôi chảy hơn. Nếu nhớ thêm, ghi bổ sung ở trang mới, kèm ngày.”

Lam Anh đưa ổ lưu trữ chứa ảnh các trang và tệp email gốc. Diệu Linh không mở ngay. Trước mặt Lam Anh, cô ghi nhãn vật chứa, số sê-ri, tình trạng bên ngoài và thời điểm tiếp nhận. Hai người cùng kiểm tra rằng phong bì còn rỗng, rồi mới đặt ổ vào trong. Lam Anh ký ở mục người giao; Diệu Linh ký ở mục người nhận. Đường niêm phong được phủ bởi chữ ký của cả hai.

“Việc này có chứng minh nội dung bên trong là thật không?” Lam Anh hỏi.

“Không,” Diệu Linh đáp. “Nó chỉ tạo một mốc về vật tôi nhận hôm nay và tình trạng niêm phong từ lúc này. Tính xác thực của từng tệp phải được kiểm tra bằng nguồn độc lập.”

Diệu Linh lập biên bản tiếp nhận bản sao quyết định đình chỉ và các biên nhận hành chính. Bản gốc vẫn do Lam Anh giữ. Mỗi trang được đếm, mô tả và gắn mã; không trang nào được gọi là bằng chứng kết luận.

Sau đó Diệu Linh mở máy ghi âm và xin phép bắt đầu cuộc trao đổi. Lam Anh đồng ý. Cô kể lại diễn biến ca trực theo thứ tự, luôn phân biệt điều mình nhìn thấy với điều nghe qua điện thoại. Khi Lam Anh nói “bản tin đã bị thay”, Diệu Linh dừng lại.

“Chị nhìn thấy một bản khác xuất hiện,” cô sửa. “Hiện chị chưa biết quá trình nào tạo ra nó. Hãy giữ đúng giới hạn đó.”

Lam Anh lặp lại bằng cách chính xác hơn. Bản cảnh báo của cô có mã phiên và trạng thái vào hàng chờ; sau đó một sản phẩm công khai có nội dung khác xuất hiện. Cô chưa biết quan hệ kỹ thuật giữa hai bản.

Diệu Linh hỏi về quyết định đình chỉ, việc niêm phong máy trạm và danh mục sổ ca. Lam Anh kể rằng mình đã ký xác nhận bàn giao nhưng không có ảnh danh mục. Diệu Linh ghi đây là tài liệu cần yêu cầu từ tổ xác minh, không phải khoảng trống được phép lấp bằng trí nhớ.

Buổi chiều, họ soạn văn bản gửi tổ xác minh. Diệu Linh thông báo mình là người hỗ trợ pháp lý, đề nghị mọi buổi lấy lời trình bày phải có lịch, phạm vi và biên bản; đề nghị cung cấp bản sao danh mục niêm phong có chữ ký của Lam Anh; đồng thời nhắc lại bốn yêu cầu bảo toàn đã được tiếp nhận. Văn bản không yêu cầu giao dữ liệu nội bộ cho Lam Anh, chỉ yêu cầu đơn vị nắm giữ xác nhận chính sách lưu, thời hạn quay vòng và người chịu trách nhiệm bảo toàn.

Văn bản khác yêu cầu mọi phản hồi đi qua đầu mối chính thức, không dùng tài khoản cá nhân hay để nhân viên tự mang thiết bị tới gặp Lam Anh. Một bản sao gửi sai quy trình vẫn có thể làm hỏng giá trị tài liệu.

“Còn chị Thu Hà?” Lam Anh hỏi. “Tôi biết trạm của chị ấy có nhật ký.”

“Chị không được yêu cầu bà ấy đưa cho mình,” Diệu Linh nói. “Ta chỉ có thể đề nghị cơ quan quản lý bảo toàn theo thủ tục. Khi có lệnh tiếp nhận độc lập, người có thẩm quyền sẽ làm việc với bà ấy.”

Lam Anh đồng ý. Cô đã dặn Thu Hà không gửi gì từ hôm xảy ra lũ; bây giờ nguyên tắc ấy được ghi thành văn bản.

Trước khi rời phòng, Diệu Linh đặt phong bì chứa ổ lưu trữ vào tủ khóa của hội khoa học. Một cán bộ hành chính độc lập chứng kiến số niêm phong và ký vào sổ. Diệu Linh đưa Lam Anh bản sao biên bản, trên đó ghi rõ thời gian, người giao, người nhận, người chứng kiến và giới hạn: chưa kiểm tra nội dung kỹ thuật, chưa xác nhận tính đầy đủ, chưa đưa ra kết luận.

Tối cùng ngày, tổ xác minh trả lời. Họ chấp nhận Diệu Linh tham dự buổi làm việc, đồng ý cung cấp danh mục vật đã niêm phong và ghi nhận yêu cầu không để dữ liệu bị quay vòng trong thời gian rà soát. Họ chưa xác nhận bản cảnh báo của Lam Anh còn nguyên, cũng chưa đồng ý cho bên ngoài tiếp cận máy trạm.

Diệu Linh chuyển thư cho Lam Anh kèm một câu ngắn: “Đã có khung làm việc; chưa có kết quả.”

Lam Anh in thư, đặt sau biên bản custody rồi cập nhật bảng thời gian. Cô không cảm thấy mình đã giành lại được sự thật. Nhưng từ giờ, mỗi vật được tiếp nhận đều có tên gọi đúng, mỗi lần chuyển giao đều có người chịu trách nhiệm, và không ai có thể biến một bản sao chưa kiểm chứng thành kết luận chỉ bằng cách đặt nó lên bàn họp.