PHẦN 6

Sáu ngày sau trận lũ, con đường vào trạm vô tuyến huyện Trường Vân mới được thông một làn. Phạm Thu Hà vẫn ở khu nhà tạm của đội cứu hộ, vai quấn băng mỏng, mỗi sáng trở lại phòng máy để kiểm tra thiết bị cùng cán bộ phụ trách. Bà không gọi cho Vũ Lam Anh. Lời dặn cuối cùng trước khi đường truyền đứt vẫn còn nguyên: đừng gửi bất cứ thứ gì qua một con đường thiếu an toàn.

Yêu cầu bảo toàn nhật ký vô tuyến được tổ xác minh chuyển tới huyện bằng văn bản. Lê Diệu Linh nhận bản sao qua đầu mối chính thức rồi báo cho Lam Anh rằng việc tiếp nhận sẽ do một tổ độc lập thực hiện. Lam Anh không được tham dự, không được hỏi Thu Hà trước về nội dung và không nhận bản sao tài liệu.

“Chúng ta chỉ biết quy trình sẽ diễn ra,” Diệu Linh nói. “Chưa biết vật còn đủ hay ghi lại điều gì.”

Tại trạm, Thu Hà mở cửa phòng máy trước mặt ba người chứng kiến. Nước lũ từng dâng tới bậc cửa, để lại một vệt bùn nâu trên tường. Tủ thiết bị ở cao vẫn khô, nhưng nguồn điện chính đã bị ngắt từ hôm xảy ra lũ. Một máy ghi âm vô tuyến dùng bộ lưu điện riêng; sổ trực giấy nằm trong ngăn kim loại có gioăng cao su.

Trước khi chạm vào bất cứ vật nào, tổ tiếp nhận chụp toàn cảnh, ghi số niêm phong tạm thời trên cửa tủ và đối chiếu danh mục thiết bị của huyện. Thu Hà đứng cách bàn một khoảng, chỉ trả lời câu hỏi về cách vận hành thông thường. Bà không kể lại nội dung các cuộc gọi, không chỉ vào dòng nào và không giải thích âm thanh nào.

Sổ trực được lấy ra trước. Người tiếp nhận mô tả bìa, số trang đã dùng, vết ẩm và các chỗ mực nhòe. Thu Hà xác nhận chữ viết của mình ở phần thông tin người lập, nhưng không xác nhận ngay từng nội dung. Mỗi trang được chụp bằng thiết bị của tổ tiếp nhận, sau đó sổ được đặt vào túi trong suốt có số riêng. Túi được niêm phong trước mặt bà.

Máy ghi âm được xử lý tách biệt. Kỹ thuật viên ghi hãng, model, số sê-ri, tình trạng nguồn và cổng kết nối. Thiết bị không được bật thử tại trạm. Thẻ lưu trữ bên trong chỉ được tháo sau khi toàn bộ mặt ngoài đã chụp đủ và vị trí ốc bảo vệ được đánh dấu. Một bộ chặn ghi phần cứng được chuẩn bị để tránh thay đổi dữ liệu khi sao chép.

Thu Hà hỏi liệu bà có thể giữ lại một bản nghe để phục vụ báo cáo của huyện hay không. Người phụ trách từ chối ở giai đoạn này. Bản gốc và bản làm việc phải được tạo theo cùng một thủ tục; không ai, kể cả người trực ca, được tự mang bản sao về.

“Tôi hiểu,” bà nói. “Tôi chỉ muốn bảo đảm tiếng gọi của người dân không biến mất.”

“Biên bản hôm nay chỉ bảo đảm chúng tôi nhận vật gì,” người phụ trách đáp. “Chưa bảo đảm tệp bên trong đầy đủ hay nghe được.”

Thẻ lưu trữ được đặt vào hộp chống tĩnh điện. Số sê-ri của thẻ, dung lượng ghi trên nhãn và tình trạng chân tiếp xúc đều được ghi lại. Máy ghi âm rỗng được niêm phong riêng để có thể kiểm tra cấu hình sau này mà không trộn với dữ liệu.

Tại phòng kỹ thuật của huyện, bản sao bit-for-bit được tạo qua bộ chặn ghi. Mã kiểm tra của ảnh dữ liệu được tính hai lần trên hai máy cô lập. Kết quả trùng nhau được in và ký. Thẻ nguồn trở lại hộp, nhận niêm phong mới rồi chuyển vào tủ custody. Ảnh dữ liệu làm việc được mã hóa và khóa quyền truy cập chờ quyết định phân tích.

Không ai mở tệp âm thanh. Không ai tìm mốc nước chạm cọc tiêu, tiếng va mạnh hay cuộc gọi cuối của Thu Hà. Sổ giấy cũng chưa được đối chiếu với đồng hồ của máy ghi âm. Tổ tiếp nhận chỉ xác nhận số vật, tình trạng và các mã kiểm tra.

Thu Hà ký biên bản với một ghi chú: bà xác nhận đã giao đúng cuốn sổ và thiết bị từng sử dụng trong ca trực, nhưng chưa xác nhận bản sao số phản ánh đầy đủ nội dung. Người phụ trách chấp nhận ghi chú ấy nguyên văn.

Cuối buổi, huyện gửi ba bản biên nhận qua văn thư: một cho tổ xác minh, một cho hội khoa học và một lưu tại trạm. Diệu Linh nhận bản của hội, kiểm tra chữ ký và số niêm phong rồi báo cho Lam Anh.

“Đã tiếp nhận sổ, thẻ lưu trữ và thân máy ghi âm,” cô nói. “Bản sao kỹ thuật có mã kiểm tra. Chưa ai nghe hoặc diễn giải.”

Lam Anh đặt bút xuống. “Chị Thu Hà có an toàn không?”

“Biên bản ghi bà ấy có mặt, đủ tỉnh táo và tự thêm giới hạn vào chữ ký.”

Lam Anh không hỏi thêm về nội dung. Cô cập nhật bảng thời gian bằng đúng ngôn ngữ của receipt: vật được tiếp nhận, niêm phong nguồn đã lập, ảnh dữ liệu được tạo qua bộ chặn ghi, phân tích chưa bắt đầu. Cô không viết rằng băng ghi âm xác nhận cảnh báo của mình.

Tối đó, Thu Hà gửi cho Lam Anh một tin nhắn cá nhân duy nhất: “Tôi đã làm việc theo giấy mời. Mọi thứ đi qua văn thư.” Lam Anh trả lời: “Cảm ơn chị. Chúng ta không trao đổi nội dung.” Hai người dừng tại đó.

Đặng Minh Quân nhìn tin nhắn trên màn hình rồi hỏi vì sao Lam Anh phải thận trọng với một người từng cố giúp dân sơ tán. Cô nói lòng tin vào Thu Hà không thay thế được thủ tục. Nếu họ trao đổi ký ức trước khi dữ liệu được kiểm tra, bất kỳ điểm trùng nào sau này cũng có thể bị cho là đã phối hợp lời kể.

“Em đang đối xử với mọi người như nhân chứng,” anh nói.

“Không. Em đang bảo vệ họ khỏi việc bị biến thành nhân chứng theo cách thuận tiện cho một bên.”

Sáng hôm sau, tổ xác minh phát hành xác nhận chính thức. Cuốn sổ trực, thẻ lưu trữ và thân máy ghi âm đã được nhận theo danh mục; số niêm phong khớp giữa nơi giao và nơi lưu; bản làm việc có mã kiểm tra; quyền truy cập đang khóa. Dòng cuối ghi rõ: chưa nghe, chưa đồng bộ thời gian, chưa diễn giải và chưa có phát hiện.

Lam Anh lưu văn bản sau receipt telemetry của Trần Gia Huy. Hai nguồn độc lập giờ đã có người chịu trách nhiệm giữ, nhưng cả hai vẫn im lặng. Sự im lặng ấy không khiến cô thất vọng. Nó có nghĩa chưa ai được phép ép dữ liệu kể trước câu chuyện mà họ muốn nghe.