PHẦN 9

Ba ngày sau khi vào khu lưu trú của hội khoa học, Vũ Lam Anh được báo tổ xác minh cho đại diện của cô tiếp cận bản sao dữ liệu kỹ thuật đã niêm phong. Điều kiện rất chặt: không mang thiết bị cá nhân, không sao chép tệp gốc, không công bố kết quả trước khi có biên bản chuyên môn. Luật sư Lê Diệu Linh đọc từng điều rồi xác nhận tham dự.

Phòng kiểm tra đặt trong trụ sở thanh tra tỉnh. Trên bàn có máy tính tách mạng, hai ổ lưu trữ niêm phong và sổ ghi người ra vào. Trần Gia Huy cùng một chuyên viên giám sát đã có mặt. Anh yêu cầu mọi người đối chiếu số niêm phong với danh mục bàn giao. Tất cả đều khớp.

Gia Huy mở telemetry của hệ thống cảnh báo. Anh nói mỗi thao tác tạo bản nháp, đổi mức nguy cơ, chuyển phê duyệt hoặc hủy phiên đều để lại chuỗi sự kiện: thời điểm, mã phiên, loại thao tác và khóa định danh thiết bị. Khóa định danh chỉ cho biết lệnh đi từ thiết bị nào, bằng phiên đăng nhập nào, không xác định người ngồi trước máy.

Anh nhập mã phiên Lam Anh đã ghi trong sổ ca. Dữ liệu hiện ra: bốn giờ năm mươi sáu, tài khoản của Lam Anh tạo bản nháp nguy cơ rất cao; bốn giờ năm mươi tám, bản nháp được chuyển sang hàng chờ; năm giờ linh hai, tài khoản trưởng ca mở hồ sơ; năm giờ linh bảy, mức nguy cơ bị đổi từ rất cao xuống cao; năm giờ mười một, phiên được đánh dấu thay thế bởi bản tin mới.

Dòng cuối cùng là năm giờ mười ba: lệnh xóa bản nháp đầu tiên được gửi từ máy trạm quản trị đặt tại văn phòng Lê Hoàng Phúc.

Gia Huy phóng to chi tiết nhưng không kết luận. Phiên đăng nhập mang quyền của Hoàng Phúc, song hệ thống không có xác thực sinh trắc học; người biết mật khẩu hoặc dùng phiên chưa khóa cũng có thể gửi lệnh. Chuyên viên hỏi liệu đó có thể là tác vụ tự động. Gia Huy đáp chưa thể loại trừ nếu chưa kiểm cấu hình, nhưng mã này được phân loại là thao tác người dùng, không phải tiền tố tác vụ nền. Diệu Linh yêu cầu ghi nguyên văn cả phần giới hạn.

Tệp cấu hình được kiểm tra tiếp. Danh sách tác vụ nền, lịch lưu trữ và quy tắc tự dọn bản nháp không có mục nào chạy lúc năm giờ mười ba. Bản nháp cũng chưa đủ tuổi để bị xóa tự động. Gia Huy vẫn chỉ ghi nhận: chứng minh được thiết bị, phiên và loại lệnh; chưa chứng minh được người sử dụng phiên.

Buổi chiều, nhóm nghe bản ghi vô tuyến. Phạm Thu Hà tham gia qua đường truyền bảo mật từ huyện Trường Vân, đọc số hiệu thiết bị, thời điểm trích xuất và biên bản niêm phong trước khi phát. Âm thanh có nhiễu, nhưng đồng hồ máy ghi đã được hiệu chỉnh theo tín hiệu thời gian đầu ca.

Ở mốc bốn giờ bốn mươi chín, Thu Hà báo nước tại ngầm tràn chạm cọc tiêu. Lam Anh yêu cầu tiếp tục quan sát độc lập, không suy diễn từ bản nháp. Năm giờ linh năm, Thu Hà báo đá và bùn bắt đầu tràn qua một đoạn đường liên bản, đọc lại địa danh hai lần. Một giọng nam từ trung tâm nói tỉnh chưa xác nhận phạm vi phát cảnh báo, yêu cầu duy trì theo dõi. Thu Hà nhận ra giọng Hoàng Phúc, nhưng Diệu Linh đề nghị chỉ ghi nhận dạng sơ bộ, chờ giám định âm thanh và lịch phân công.

Đến năm giờ mười bảy, Thu Hà báo liên lạc với một bản chập chờn, nước khe tăng nhanh, đề nghị phát thông báo theo kênh huyện. Từ trung tâm đáp: “Chưa nâng thuật ngữ. Chờ bản tin thống nhất.” Lam Anh từng nghe một phần câu ấy qua loa giám sát nhưng không dám khẳng định vì nhiễu. Giờ bản ghi tồn tại độc lập với trí nhớ của cô.

Thu Hà nói sau đó cô tự gọi cho xã lúc năm giờ hai mươi mốt, dùng cụm “di chuyển khỏi khe thấp”, không nói là lệnh sơ tán của tỉnh. Nhật ký máy vô tuyến huyện có ghi. Lũ quét đi qua bản đầu tiên chưa đầy nửa giờ sau.

Cuối ngày, Diệu Linh yêu cầu sao biên bản có chữ ký các bên. Gia Huy ký phần kỹ thuật, Thu Hà xác nhận từ xa theo quy trình. Lam Anh chỉ ký rằng cô chứng kiến việc mở và kiểm tra dữ liệu, không ký nhận định trách nhiệm.

Ngoài hành lang, cô gặp Đặng Minh Quân. Anh được gọi bổ sung lời khai vì nhật ký cho thấy Lam Anh từng gọi anh lúc sáu giờ mười hai. Minh Quân nói muốn sửa tường trình: trước khi bị đình chỉ, Lam Anh đã nói mình giữ biên nhận chuyển hồ sơ và đề nghị anh chứng kiến sao lưu; anh từ chối vì sợ bị coi là thiên vị. Anh cũng sẽ ghi phòng pháp chế từng đưa mẫu câu hỏi, không bảo anh nói dối nhưng nhấn mạnh chỉ nên ghi điều tự mình thấy. Lam Anh bảo anh phải ghi chính xác lý do sửa, không sửa để giúp cô. Anh gật đầu.

Sáng hôm sau, Tiến sĩ Bùi Đức Tâm nhận tệp radar cuối cùng đã xác nhận nguồn. Trước tổ chuyên môn, ông đối chiếu hash, thời điểm thu nhận, cờ chất lượng và vùng bị che địa hình. Một lát cắt có nhiễu, nhưng ba lát cắt kế tiếp cùng thể hiện dải mưa giữ trên thượng nguồn.

Ông dựng hai kịch bản: một dùng toàn bộ dữ liệu ca trực có trước năm giờ, một loại trạm Hòn Sương, nguồn từng bị cho là bất thường. Cả hai đều vượt ngưỡng cảnh báo rất cao; kịch bản loại Hòn Sương vượt muộn hơn bảy phút. Đức Tâm kết luận kết quả không chứng minh một bản tin chắc chắn cứu được ai, chỉ trả lời đánh giá của Lam Anh có nằm ngoài chuẩn nghiệp vụ hay không. Câu trả lời là không: với dữ liệu khi đó, mức rất cao có cơ sở; hạ một mức cần lý do được ghi nhận rõ, không thể chỉ viện dẫn trạm dưới thấp chưa tăng.

Đến cuối tuần, tổ xác minh ban hành nghị quyết tạm thời mới. Văn bản thừa nhận bản nháp nguy cơ rất cao đã được tạo và truyền vào hàng chờ phê duyệt; việc xóa bản nháp không phải thao tác của tài khoản Lam Anh; đánh giá nghiệp vụ của cô có cơ sở sơ bộ. Tuy nhiên, đình chỉ vẫn giữ nguyên cho đến khi xác định ai đã dùng phiên quản trị và quá trình phê duyệt bị tác động từ đâu.

Báo chí chỉ đặt dòng “không phải thao tác của Lam Anh” ở cuối bài. Cơ quan chưa trả nhà công vụ. Viện nghiên cứu chưa khôi phục lời mời. Không ai xin lỗi.

Tối đó, Lam Anh đặt nghị quyết cạnh bìa hồ sơ. Cô mở bảng thời gian, thêm ba dòng: lệnh xóa từ máy quản trị; bản ghi vô tuyến xác nhận cảnh báo hiện trường; mô hình độc lập xác nhận mức rất cao có cơ sở. Ở cột kết luận, cô không viết tên thủ phạm. Cô viết: “Ba nguồn hội tụ về quy trình bị can thiệp; danh tính và động cơ chưa đủ chứng minh.” Rồi cô gạch chân chữ “chưa”.
