PHẦN 10

Cuộc họp chuyên môn mở rộng được tổ chức sau nghị quyết tạm thời năm ngày. Ban đầu, tỉnh dự định họp kín, nhưng hội khoa học, đại diện các gia đình bị ảnh hưởng và nhiều cơ quan báo chí cùng yêu cầu công khai phần trình bày kỹ thuật. Cuối cùng, chủ tọa cho truyền hình trực tuyến các nội dung không chứa dữ liệu cá nhân, còn việc quy trách nhiệm cụ thể vẫn nằm trong phiên kín.

Vũ Lam Anh ngồi ở hàng ghế dành cho người liên quan, bên cạnh luật sư Lê Diệu Linh. Cô không được mời phát biểu đầu tiên. Người mở đầu là Trần Gia Huy.

Trên màn hình, Gia Huy trình bày kiến trúc hệ thống bằng một sơ đồ đơn giản. Bản nháp của dự báo viên đi vào hàng chờ; trưởng ca có quyền duyệt, sửa mức hoặc tạo phiên thay thế; tài khoản quản trị có quyền xóa nhưng mọi thao tác đều để lại telemetry ở máy chủ trung gian. Anh tránh thuật ngữ khó hiểu và liên tục phân biệt dữ kiện với suy luận.

“Chúng tôi xác nhận lúc bốn giờ năm mươi sáu, tài khoản của cô Vũ Lam Anh tạo cảnh báo nguy cơ rất cao,” anh nói. “Lúc bốn giờ năm mươi tám, hồ sơ được chuyển vào hàng chờ. Sau đó mức bị hạ bằng tài khoản trưởng ca. Lúc năm giờ mười ba, bản nháp đầu tiên bị xóa qua một phiên quản trị đang hoạt động trên máy trạm tại văn phòng trưởng ca.”

Một phóng viên hỏi liệu điều đó có chứng minh Lê Hoàng Phúc xóa cảnh báo hay không.

“Không,” Gia Huy đáp ngay. “Nó chứng minh đường đi của lệnh. Việc gắn lệnh với một cá nhân cần thêm bằng chứng về quyền kiểm soát thiết bị và phiên đăng nhập tại thời điểm đó.”

Anh chiếu cấu hình tự động để loại giả thuyết hệ thống tự dọn bản nháp. Không tác vụ nào được lập lịch vào thời điểm lệnh xóa phát sinh. Phần mềm cũng không tự đổi mức cảnh báo.

Tiếp theo là Phạm Thu Hà. Cô tới từ Trường Vân, mang theo sổ trực gốc và bản sao đã giám định của bản ghi vô tuyến. Thu Hà kể trình tự quan sát tại hiện trường: nước chạm cọc, bùn đá tràn đường, liên lạc với bản chập chờn. Cô không nói mình đã dự báo chính xác lũ quét. Cô nói mình đã báo những gì mắt thấy, tai nghe và thời điểm báo.

Đoạn âm thanh “chưa nâng thuật ngữ, chờ bản tin thống nhất” được phát trong hội trường. Kết quả giám định cho thấy giọng nói có độ tương đồng cao với mẫu của Hoàng Phúc, nhưng báo cáo vẫn ghi không thể coi nhận dạng giọng là bằng chứng duy nhất.

Hoàng Phúc ngồi ở bàn bên kia. Khi được hỏi, ông thừa nhận đã yêu cầu chờ bản tin thống nhất. Ông nói mục đích là tránh hai cấp phát thông tin mâu thuẫn, không phải ngăn sơ tán.

“Ông có biết địa phương cần ít nhất bốn mươi phút để truyền tin xuống các bản không?” đại diện gia đình bị ảnh hưởng hỏi.

“Đó là ước tính, không phải thời gian cố định.”

“Nhưng ông có biết hay không?”

Hoàng Phúc im lặng một nhịp rồi nói: “Có.”

Tiến sĩ Bùi Đức Tâm trình bày sau đó. Ông đặt lên màn hình bốn nguồn dữ liệu mà Lam Anh có trong ca trực: radar, vệ tinh, độ ẩm đất và các trạm mưa. Để tránh biến buổi họp thành một màn bảo vệ cá nhân, ông chạy lại cả kịch bản bất lợi nhất cho nhận định của cô: loại bỏ Hòn Sương, giảm trọng số mô hình và chỉ dùng những quan sát hiện trường đã có trước thời điểm hạ mức.

Ngưỡng nguy cơ rất cao vẫn bị vượt.

“Dự báo không phải lời tiên tri,” Đức Tâm nói. “Ta không đánh giá dự báo viên bằng cách nhìn ngược từ hậu quả rồi đòi họ phải biết chắc điều gì xảy ra. Ta đánh giá xem tại thời điểm quyết định, dữ liệu và quy trình có hỗ trợ quyết định ấy không. Trong trường hợp này, lựa chọn mức rất cao có cơ sở. Việc hạ mức không được kèm một biên bản phản biện kỹ thuật tương xứng.”

Ông cũng nói rõ cảnh báo đúng không bảo đảm mọi thiệt hại được ngăn chặn. Một số hộ có thể không kịp rời đi; đường có thể bị chia cắt; thông tin có thể không tới được tất cả mọi người. Nhưng phát cảnh báo sớm hơn sẽ tạo thêm thời gian hành động. Không ai có quyền biến sự bất định ấy thành lý do để xóa dấu vết của một quyết định.

Sau giờ nghỉ, chủ tọa mời Lam Anh lên trình bày. Cô mang theo bảng thời gian, không mang bài diễn văn.

Cô bắt đầu từ bốn giờ mười hai, khi dải mưa đổi màu trên radar. Cô chỉ từng mốc: dữ liệu nào tới trước, nguồn nào chưa chắc chắn, lúc nào cô gọi Thu Hà, lúc nào hồ sơ được chuyển sang hàng chờ. Cô thừa nhận trạm Khe Đá chưa tăng khi bản nháp được lập và báo cáo mặt đất lúc đầu chỉ là định tính.

“Tôi không nói mình không thể sai,” Lam Anh nói. “Tôi nói rằng mức cảnh báo tôi chọn dựa trên nhiều nguồn độc lập và phù hợp bảng nghiệp vụ. Nếu cấp duyệt muốn hạ mức, họ có quyền làm theo thẩm quyền, nhưng quyết định ấy phải được ghi lại cùng lý do. Không ai có quyền xóa bản nháp rồi biến sự khác biệt chuyên môn thành lỗi cá nhân của người lập bản nháp.”

Một thành viên hội đồng hỏi tại sao cô không tự phát cảnh báo khi thấy cấp trên trì hoãn.

“Vì tài khoản của tôi không có quyền phát công khai nếu chưa duyệt. Nếu tôi vượt quyền, bản tin có thể không đi qua kênh chính thức và gây xung đột chỉ đạo. Tôi đã ghi ý kiến, chuyển hồ sơ và liên lạc hiện trường. Quy trình được thiết kế để nhiều người cùng chịu trách nhiệm. Nó không thể vận hành nếu sau đó mọi trách nhiệm bị đẩy về người có ít quyền nhất.”

Câu trả lời ấy được chia sẻ rộng rãi chỉ vài phút sau. Nhưng điều làm căn phòng đổi khác không phải lời nói của Lam Anh. Đó là tài liệu do tổ xác minh công bố tiếp theo.

Nhóm kỹ thuật dựng lại bản công khai từng phát lúc năm giờ mười tám từ bản nháp mức thấp còn lưu trong kho phát hành. Đây không phải bản gốc của Lam Anh và cũng không phải tệp đã bị xóa khỏi giao diện làm việc; nó là bản tin đã qua biên tập, được tạo sau khi mức cảnh báo bị hạ. Vì bản nháp mức thấp vẫn có mã phát hành, hệ thống khóa được timeline: bản rất cao đi vào hàng chờ trước, bản cao được dựng lại sau, rồi bản công khai lấy nội dung từ bản cao.

Gia Huy nhấn mạnh điều đó hai lần. “Bản sao phục dựng cho thấy trình tự biên tập và phát hành. Nó không tự chứng minh ai ra lệnh. Nhưng nó loại khả năng rằng cô Lam Anh chưa từng gửi cảnh báo rất cao hoặc bản công khai chỉ là kết quả tự động của hệ thống.”

Nhật ký kiểm soát ra vào cho thấy lúc năm giờ mười ba, Hoàng Phúc có mặt trong phòng họp trực tuyến ở tầng dưới. Camera hành lang xác nhận ông rời văn phòng lúc năm giờ linh chín. Máy trạm quản trị trong phòng ông vẫn mở phiên đăng nhập. Một trợ lý văn phòng của Nguyễn Mỹ Duyên đã vào khu vực đó lúc năm giờ mười, sử dụng thẻ tạm do văn phòng tỉnh cấp.

Người trợ lý khai rằng được Mỹ Duyên yêu cầu lấy bản in chương trình du lịch từ máy của Hoàng Phúc vì máy in phòng họp bị lỗi. Cô phủ nhận thao tác trên hệ thống cảnh báo. Camera không ghi bên trong phòng nên lời khai chưa thể bác bỏ.

Mỹ Duyên lập tức nói bà không hề yêu cầu ai xóa dữ liệu. Bà chỉ đề nghị trung tâm ban hành bản tin thận trọng hơn và cho rằng đó là quyết định điều hành hợp pháp.

Diệu Linh yêu cầu công bố nhật ký cuộc gọi giữa văn phòng Mỹ Duyên và Hoàng Phúc. Dữ liệu cho thấy hai người trao đổi bốn lần trong khoảng bốn giờ bốn mươi đến năm giờ mười hai. Nội dung cuộc gọi không được ghi âm, nhưng ngay sau cuộc cuối, Hoàng Phúc gửi một tin nhắn nội bộ: “Bản rất cao phải được thay trước giờ khai mạc. Chị Duyên đã chốt phạm vi truyền thông.”

Hoàng Phúc nói “chị Duyên” trong câu đó là cách ông tóm tắt chỉ đạo, không có nghĩa bà yêu cầu xóa. Mỹ Duyên nói bà chỉ “chốt phạm vi truyền thông”, không can thiệp hồ sơ nghiệp vụ.

Sự phòng thủ của họ có thể cùng đúng ở một phần: một người gây áp lực, một người hạ mức, còn thao tác xóa do người khác thực hiện trong một phiên bỏ mở. Nhưng chuỗi sự kiện đã cho thấy điều mà các báo cáo trước né tránh. Việc thay đổi cảnh báo không phát sinh từ sai số kỹ thuật. Nó diễn ra trong lúc các lãnh đạo lo ngại cảnh báo ảnh hưởng tuần du lịch.

Phiên công khai kết thúc trước khi hội đồng chuyển sang xem xét trách nhiệm cá nhân. Ngoài cửa, phóng viên vây kín lối đi. Lam Anh không trả lời câu hỏi ai là thủ phạm.

“Tài liệu đã cho thấy cơ chế can thiệp và khóa được trình tự thời gian,” cô nói. “Việc kết luận từng người thuộc thẩm quyền điều tra. Xin đừng biến một vụ sai quy trình thành cuộc săn một cái tên trước khi bằng chứng hoàn tất.”

Trở lại khu lưu trú, Lam Anh thấy lời mời giảng chuyên đề được gửi lại. Viện nghiên cứu viết rằng những diễn biến mới đã “làm rõ hiểu lầm”. Cô không nhận lời ngay. Nhà công vụ cũng thông báo tạm hoãn việc thu hồi đồ còn lại, nhưng không đề nghị cô trở về.

Đặng Minh Quân gọi, nói bản tường trình bổ sung đã được tiếp nhận. Anh muốn gặp cô.

“Không phải lúc này,” Lam Anh đáp.

“Anh không xin em quên.”

“Em biết. Nhưng sự thật về ca trực và chuyện của chúng ta là hai việc khác nhau. Một việc được làm rõ không tự sửa việc kia.”

Cô kết thúc cuộc gọi rồi mở bản ghi cuộc họp. Trên màn hình, telemetry, vô tuyến, mô hình, bản công khai được dựng lại và nhật ký liên lạc đã nối thành một chuỗi. Chuỗi ấy chứng minh bản cảnh báo gốc tồn tại, có cơ sở, đã bị hạ mức và bị che phủ bằng một phiên bản công khai phát sau đó.

Nhưng danh tính người nhấn lệnh xóa vẫn còn một khoảng trống.

Cuối tệp tài liệu mới công bố có một phụ lục ít người chú ý: hệ thống quản trị lưu mã của bàn phím bảo mật dùng để xác nhận lệnh xóa. Mã ấy không trùng thiết bị gắn cố định tại bàn Hoàng Phúc. Nó thuộc một bàn phím di động được cấp cho văn phòng điều phối của Mỹ Duyên.

Diệu Linh khoanh dòng đó bằng bút đỏ.

“Bây giờ chúng ta có đường đi của thiết bị,” bà nói. “Phần còn lại là ai đã nhận nó và ai đã trả nó.”
