PHẦN 4

Báo cáo sơ bộ của Nhà hát Lam Giang được gửi lúc bảy giờ sáng, trước cả thông báo về cuộc họp với người bị thương.

Lâm Tuệ An đọc văn bản trên điện thoại ở hành lang bệnh viện. Báo cáo nói tai nạn xảy ra “sau cue mười bảy do quản lý sân khấu phát” và phiếu tải trong hồ sơ “mang chữ ký xác nhận của người phụ trách”. Hai câu đứng cạnh nhau như một chuỗi nguyên nhân đã hoàn tất. Không có đoạn nào nói dữ liệu bàn điều khiển chưa được thu nhận độc lập, sổ cue giấy chưa được đối chiếu với ảnh, hay nguồn gốc ba liên phiếu tải vẫn chưa xác định.

Cuối trang là kiến nghị chấm dứt hợp đồng của cô vì vi phạm quy trình an toàn.

Điện thoại rung liên tiếp. Một nhà tổ chức hủy lịch điều phối tháng sau. Đoàn múa từng mời cô làm cố vấn yêu cầu gỡ tên khỏi tài liệu quảng bá. Chủ nhà báo phóng viên lại đứng dưới sảnh.

Tuệ An lưu bản báo cáo, đường dẫn, thời điểm tải và mã kiểm tra của tệp. Cô không viết rằng văn bản giả. Nó là báo cáo thật do nhà hát công bố; điều cần phân biệt là những kết luận trong đó chưa được nâng đỡ bởi toàn bộ nguồn dữ liệu.

Trong phòng bệnh, Trần Mộc Miên đang thử nâng cánh tay trái dưới sự hướng dẫn của chuyên viên phục hồi. Cô chỉ nhấc được một đoạn ngắn rồi phải dừng.

Mẹ Mộc Miên đặt bản báo cáo lên bàn. “Họ nói đã xác định trách nhiệm. Vậy ai trả những tháng con tôi không biểu diễn được?”

“Báo cáo này là quan điểm sơ bộ của nhà hát,” Tuệ An nói. “Nó chưa trả lời dữ liệu hệ fly ghi gì, tài liệu nào là bản gốc hay quyền lợi điều trị được tính ra sao.”

“Cô vẫn chỉ nói điều chưa biết.”

“Vì nếu cháu đưa cô một câu trả lời chưa có chứng cứ, sau này chính Miên sẽ phải gánh nó.”

Mộc Miên hạ cánh tay xuống. “Mẹ, con cần họ trả tiền điều trị. Nhưng con không muốn đổi lời nhớ của mình lấy khoản đó.”

Bà nhìn con gái rất lâu rồi gấp bản báo cáo lại. “Vậy chúng ta yêu cầu họ trả lời từng khoản bằng văn bản.”

Mai Quỳnh Dao đến sau đó với một danh mục tài liệu. Cô ghi nhận bản báo cáo là bản tải công khai, không phải hồ sơ làm việc gốc. Phản hồi của công đoàn chỉ yêu cầu nhà hát nêu nguồn cho từng kết luận: cue mười bảy được đối chiếu với lệnh nào, chữ ký thuộc liên nào, và dữ liệu nào chứng minh quan hệ nhân quả.

“Chúng ta không viết báo cáo sai,” Quỳnh Dao nói. “Chúng ta viết những mệnh đề nào chưa có nguồn được cung cấp.”

Tuệ An gật đầu. “Và không dùng mép xé để kết luận phiếu bị thay.”

“Đúng. Sai khác đó vẫn chỉ là quan sát.”

Buổi trưa, Nguyễn Tấn Lộc gọi từ xưởng kỹ thuật. Cậu không còn quyền vào khu rail, nhưng được yêu cầu lập danh sách thiết bị để bàn giao cho đội thay thế.

“Em thấy một dòng trong sổ bảo trì,” cậu nói. “Bộ bảo vệ motor của thanh số sáu có bộ nhớ vòng riêng.”

“Em đang cầm sổ gốc à?”

“Không. Em nhìn bản danh mục thiết bị được phép dùng để bàn giao. Em chưa chụp và cũng chưa mở tủ điện.”

“Vậy chỉ ghi điều em trực tiếp thấy: tên thiết bị và mô tả chức năng trên danh mục. Đừng thử truy cập.”

Tấn Lộc thở ra. “Em biết. Nhưng nếu bộ nhớ đó còn—”

“Chúng ta chưa biết nó còn dữ liệu, chưa biết cửa sổ lưu bao lâu và chưa biết ai có quyền thu nhận.”

Cậu im một lúc rồi nói: “Em sẽ báo Quỳnh Dao bằng văn bản.”

Phan Đức Khải xác nhận loại thiết bị qua cuộc gọi có Quỳnh Dao chứng kiến. Anh yêu cầu Tấn Lộc đọc đúng mã model từ danh mục, không suy đoán theo hình dáng tủ điện.

“Dòng này thường có bộ nhớ sự kiện độc lập với bàn điều khiển,” Đức Khải nói. “Nhưng cấu hình từng công trình có thể khác. Có nơi tắt chức năng, có nơi cửa sổ bị ghi đè nhanh.”

“Có thể đọc từ xa không?” Quỳnh Dao hỏi.

“Không nên giả định. Việc đầu tiên là xác định thiết bị vật lý, nguồn cấp, trạng thái hoạt động và hướng dẫn của đúng model. Sau đó mới lập quy trình sao lưu không làm thay đổi bộ nhớ.”

Tuệ An hỏi: “Nó có thể cho biết ai thao tác không?”

“Không. Ngay cả khi có sự kiện, thiết bị thường ghi trạng thái điện, cảnh báo hoặc lệnh nhận được. Nó không tự biến một tài khoản, dây tín hiệu hay cổng kết nối thành một con người.”

Câu trả lời không minh oan cho cô, nhưng nó mở ra một nguồn không nằm trong báo cáo sơ bộ.

Quỳnh Dao gửi yêu cầu bảo toàn khẩn cấp cho nhà hát: không cấp nguồn lại, không reset và không thay bộ bảo vệ motor trước khi có buổi thu nhận với đại diện các bên. Yêu cầu ghi rõ họ chưa xác nhận thiết bị còn lưu dữ liệu; mục đích chỉ là tránh làm mất một nguồn có khả năng tồn tại.

Vũ Hạo Nhiên trả lời rằng toàn bộ hệ thống thuộc phạm vi kiểm tra nội bộ và việc trì hoãn sửa chữa gây thiệt hại lịch diễn. Ông không xác nhận hay phủ nhận bộ nhớ vòng.

Đức Khải từ chối ký vào đề nghị của Tuệ An. Anh tự gửi một khuyến nghị kỹ thuật riêng, nêu rằng cấp nguồn hoặc reset có thể thay đổi trạng thái thiết bị tùy cấu hình. Hai văn bản cùng yêu cầu bảo toàn nhưng khác nguồn và khác người chịu trách nhiệm.

“Tôi không muốn họ nói cô chỉ đạo tôi,” anh nói.

“Và tôi không muốn dùng tên anh làm lá chắn,” Tuệ An đáp.

Chiều muộn, nhà hát đồng ý cho quan sát bên ngoài tủ điện vào sáng hôm sau, với điều kiện không tháo niêm phong nội bộ. Quỳnh Dao yêu cầu ghi hình liên tục từ lúc vào phòng máy, xác nhận số model và tình trạng đèn báo trước khi quyết định bước tiếp theo.

Mộc Miên gọi khi Tuệ An đang đọc thư xác nhận.

“Báo cáo của họ có bị rút không?”

“Chưa.”

“Chị có thứ gì chứng minh họ sai chưa?”

“Chưa. Chỉ có một nguồn dữ liệu có thể tồn tại và chưa được thu nhận.”

Mộc Miên im lặng, rồi nói: “Vậy ngày mai đừng để họ mở nó khi chỉ có người của họ.”

Sáng hôm sau, qua cửa kính phòng máy, Đức Khải đối chiếu mã trên tủ với danh mục Tấn Lộc đã đọc. Anh không chạm vào công tắc. Quỳnh Dao quay rõ đồng hồ, biển số thiết bị và đèn nguồn đang tắt.

Đức Khải chỉ vào nhãn kỹ thuật ở cạnh bộ bảo vệ motor.

“Đúng model có bộ nhớ vòng sự kiện,” anh nói. “Nếu cấu hình này đã bật và chưa bị ghi đè, có thể còn một cửa sổ riêng.”

Quỳnh Dao ghi vào biên bản rằng chưa ai mở cổng, chưa trích xuất và chưa đọc nội dung.

Sau lớp kính, thiết bị vẫn tối. Nó chưa đưa ra câu trả lời nào. Nhưng lần đầu tiên kể từ tai nạn, họ biết chính xác một câu hỏi cần được bảo toàn trước khi có người bật nguồn trở lại.
