PHẦN 5

Mandate thu nhận được ký vào cuối ngày, sau ba vòng sửa câu chữ giữa công đoàn, nhà hát và đơn vị giám định thiết bị độc lập.

Mai Quỳnh Dao đọc từng điều khoản trước khi chấp nhận: buổi làm việc chỉ nhằm bảo toàn và sao lưu bộ nhớ vòng của bộ bảo vệ motor; không cấp quyền sửa chữa, chạy thử hay thay đổi cấu hình; mỗi bên có một người quan sát; mọi thao tác phải được ghi hình liên tục và ghi vào nhật ký theo thời điểm.

Vũ Hạo Nhiên yêu cầu thêm câu cho phép nhà hát khôi phục hệ thống ngay sau khi sao lưu.

“Chỉ sau khi người thu nhận xác nhận thao tác đã kết thúc và tình trạng thiết bị được ghi nhận,” Quỳnh Dao nói. “Mandate này không trao quyền quyết định hệ thống an toàn để vận hành.”

“Chúng tôi đã mất bốn suất diễn.”

“Thiệt hại lịch diễn không thay đổi phạm vi chứng cứ.”

Phan Đức Khải gửi danh sách dụng cụ riêng. Anh yêu cầu bộ đọc đúng model, nguồn cách ly, thiết bị ghi hình có đồng hồ hiển thị, hai ổ lưu mới và một máy tính không kết nối mạng. Anh cũng ghi rõ việc cắm sai cổng hoặc cấp nguồn theo trình tự không phù hợp có thể thay đổi trạng thái bộ nhớ.

Lâm Tuệ An không ký vào quy trình kỹ thuật. Cô chỉ xác nhận mình sẽ có mặt với tư cách người bị báo cáo sơ bộ quy trách nhiệm, không phải người điều khiển buổi thu nhận.

Sáng hôm sau, căn phòng máy được mở trước camera. Quỳnh Dao đọc giờ trên đồng hồ treo tường, giờ trên máy quay và số niêm phong ngoài tủ. Con dấu không rách tại thời điểm quan sát, nhưng biên bản vẫn để trống khoảng thời gian trước đó vì không có chuỗi bàn giao độc lập.

Đức Khải đứng cách tủ một bước. Kỹ sư giám định tên Lê Minh Châu đối chiếu mã model, số sê-ri và sơ đồ cổng với hướng dẫn nhà sản xuất đã tải từ nguồn công khai. Cô không dùng tài liệu do nhà hát tự soạn làm hướng dẫn thao tác.

“Trước khi mở, tôi cần xác nhận ai giữ chìa khóa,” Minh Châu nói.

Một nhân viên pháp chế đặt chìa khóa lên khay. Quỳnh Dao ghi tên người giao, thời điểm và tình trạng khay. Minh Châu tự mở khóa dưới góc quay cận cảnh. Bên trong, đèn nguồn vẫn tắt. Không ai chạm vào nút reset.

Hai ổ lưu được tháo niêm phong trước camera. Số sê-ri được đọc thành tiếng, chụp lại rồi ghi vào biên bản. Một ổ dùng làm bản tiếp nhận chính, ổ còn lại nhận bản sao kiểm chứng. Máy tính thu nhận khởi động từ môi trường chỉ đọc và không có kết nối mạng.

Tuệ An nhìn mọi bước diễn ra mà không đưa ra chỉ dẫn. Cô đã quen gọi cue để hàng chục người cùng chuyển động đúng thời điểm. Lần này, công việc đúng đắn nhất của cô là không điều khiển ai.

Minh Châu kiểm tra hướng dẫn rồi nối bộ đọc vào cổng dịch vụ. Màn hình chỉ hiện thông tin thiết bị và trạng thái chức năng bộ nhớ vòng.

“Chức năng được bật,” cô nói. “Dòng trạng thái này không cho biết dữ liệu liên quan sự cố còn tồn tại.”

Quỳnh Dao yêu cầu ghi nguyên câu đó.

Quá trình tạo ảnh dữ liệu bắt đầu. Thanh tiến độ di chuyển chậm. Mỗi lần phần mềm báo một khối đã đọc, Minh Châu ghi thời điểm vào nhật ký. Đức Khải quan sát nhưng không chạm bàn phím. Đại diện nhà hát ngồi phía đối diện, có quyền nhìn màn hình nhưng không được mang thiết bị lưu riêng vào phòng.

Khi bản tiếp nhận hoàn tất, Minh Châu tính hàm băm, sao sang ổ kiểm chứng rồi tính lại. Hai giá trị khớp. Bản tiếp nhận được chuyển sang chỉ đọc; thiết bị gốc được ngắt theo đúng trình tự và chụp lại tình trạng sau thao tác.

“Bây giờ đã biết có gì trong đó chưa?” Hạo Nhiên hỏi.

“Chúng ta biết đã tạo được một ảnh dữ liệu có giá trị kiểm tra toàn vẹn,” Minh Châu đáp. “Chưa có kết luận về nội dung.”

Nhà hát đề nghị phân tích ngay trên máy thu nhận để tiết kiệm thời gian. Minh Châu từ chối. Cô lập một bản làm việc mới từ bản kiểm chứng, ghi hàm băm và chỉ mở nó trên máy phân tích khác. Bản tiếp nhận chính được niêm phong cùng nhật ký và video buổi thu nhận.

Việc giải mã mất gần hai giờ vì các trường sự kiện dùng mã kỹ thuật thay cho câu chữ. Minh Châu đối chiếu bảng mã đúng phiên bản firmware. Những dòng không giải thích được được giữ nguyên, không tự gán ý nghĩa.

Bản làm việc có một sự kiện `OVERLOAD` nằm trong cửa sổ sai số quanh tai nạn. Đồng hồ nội bộ của thiết bị lệch với đồng hồ nhà hát, nên Minh Châu không ghép nó với cue mười bảy, lúc giàn nghiêng, hoạt động motor hay bất kỳ sự kiện nào khác. Cô ghi rõ khoảng sai số thay vì xếp thứ tự.

“Có thể nói quá tải xảy ra trước hay sau lúc giàn nghiêng không?” Tuệ An hỏi.

“Không. Hiện chỉ có thể đặt nó đâu đó trong cửa sổ sai số quanh sự cố. Quá tải cũng không tự nói nguyên nhân.”

Đức Khải xem bảng sự kiện từ khoảng cách quy định. “Nó cũng không nói khối lượng nào ở trên rail.”

“Đúng.”

“Có lệnh hạ thanh số sáu không?” Hạo Nhiên hỏi.

Minh Châu không trả lời bằng suy đoán. “Bộ nhớ này ghi trạng thái mà bộ bảo vệ nhận biết. Việc một mã có tương ứng lệnh điều khiển hay không cần bảng giao thức và dữ liệu bàn điều khiển. Chúng tôi chưa có hai nguồn đó trong custody độc lập.”

Quỳnh Dao lập biên bản kết quả giới hạn: bộ nhớ vòng đã được bật; ảnh dữ liệu được thu nhận và sao lưu với hash khớp; một sự kiện `OVERLOAD` xuất hiện đâu đó trong cửa sổ sai số quanh sự cố; chưa thể xếp nó với cue, độ nghiêng, hoạt động motor hay sự kiện khác, và chưa xác định nguyên nhân, lệnh motor, cấu hình tải hoặc người thao tác.

Bên ngoài phòng máy, điện thoại Tuệ An báo thêm một hợp đồng bị hủy. Cùng lúc, Mộc Miên gửi ảnh lịch phục hồi kéo dài sáu tuần. Hai hậu quả ấy là thật dù dữ liệu kỹ thuật vẫn chưa đưa ra một người để quy trách nhiệm.

Tuệ An gọi cho Mộc Miên.

“Họ tìm thấy gì?” Mộc Miên hỏi.

“Một sự kiện quá tải trong cửa sổ quanh tai nạn.”

“Vậy là hệ thống có lỗi?”

“Chưa thể nói. Quá tải là trạng thái được ghi, không phải nguyên nhân.”

Mộc Miên thở dài. “Em ghét những câu trả lời chưa xong.”

“Chị cũng vậy. Nhưng câu chưa xong còn tốt hơn câu sai đã được đóng dấu.”

Trước khi rời đi, Minh Châu xuất một bảng giới hạn chỉ ghi khoảng sai số và sự hiện diện của mã `OVERLOAD`. Cô không đưa các mã khác vào kết luận và không đặt dòng này trước hay sau cue, độ nghiêng hoặc hoạt động motor.

Nó chỉ xác nhận thiết bị đã ghi nhận `OVERLOAD` đâu đó trong cửa sổ sai số quanh sự cố. Nó không nói nguyên nhân, trình tự, tải trọng, chuyển động, lỗi điện hay người nào.
