PHẦN 6

Yêu cầu thu nhận dữ liệu bàn điều khiển được Nhà hát Lam Giang chấp nhận với một điều kiện: Lâm Tuệ An phải ký thỏa thuận không phát ngôn về báo cáo sơ bộ, hồ sơ kỹ thuật hoặc thiệt hại nghề nghiệp trong thời gian xác minh.

Vũ Hạo Nhiên đặt văn bản trước mặt cô trong phòng họp nhỏ cạnh sảnh chính. Đổi lại, nhà hát cam kết thanh toán thêm chi phí phục hồi cho Trần Mộc Miên và hoãn thủ tục chấm dứt hợp đồng của Tuệ An.

“Đây không phải thừa nhận trách nhiệm,” ông nói. “Chỉ là cách giảm tổn thất cho tất cả.”

Tuệ An đọc đến điều khoản cho phép nhà hát yêu cầu hoàn trả mọi khoản hỗ trợ nếu cô “trực tiếp hoặc gián tiếp làm phát tán thông tin bất lợi”. Không có định nghĩa về thông tin sai; chỉ có thông tin bất lợi.

Mộc Miên tham gia cuộc họp qua video từ bệnh viện. Cánh tay trái của cô vẫn đeo đai.

“Tiền điều trị của tôi không phải giá để mua sự im lặng của chị ấy,” cô nói.

Hạo Nhiên đáp rằng hai việc được đặt trong cùng văn bản vì cùng phát sinh từ sự cố.

Mai Quỳnh Dao gạch một đường dưới điều khoản hoàn trả. “Quyền lợi y tế của người bị thương không thể phụ thuộc vào việc một nhân chứng hoặc người bị quy trách nhiệm có giữ im lặng hay không. Nếu nhà hát muốn đề xuất bảo mật dữ liệu cá nhân, hãy tách thành phạm vi cụ thể.”

Tuệ An đẩy văn bản trở lại. “Tôi không ký bản này.”

Quyết định khiến thủ tục thu nhận bị hoãn thêm ba giờ. Quỳnh Dao ghi rõ sự chậm trễ do bất đồng về điều kiện pháp lý, không gọi đó là hành vi cản trở hoặc tiêu hủy dữ liệu.

Đến chiều, công đoàn và nhà hát thống nhất mandate mới. Lê Minh Châu tiếp tục phụ trách sao lưu; Phan Đức Khải chỉ quan sát các trường kỹ thuật; đại diện nhà hát giữ quyền chứng kiến; Tuệ An không được vận hành bàn điều khiển. Phạm vi gồm dữ liệu sự kiện, cấu hình phân quyền và lịch sử truy cập còn tồn tại. Mandate không cho phép chạy thử thanh bay.

Bàn điều khiển đã tắt nguồn từ sau tai nạn. Niêm phong trên cổng sau còn nguyên tại thời điểm quan sát, nhưng không có hồ sơ độc lập cho khoảng từ đêm sự cố đến lúc niêm phong. Minh Châu ghi khoảng trống đó trước khi chạm thiết bị.

Cô tạo ảnh lưu trữ theo quy trình tương tự bộ bảo vệ motor: nhận dạng máy, quay liên tục, dùng phương tiện lưu mới, tạo bản tiếp nhận, bản kiểm chứng và bản làm việc, rồi tính hàm băm cho từng lớp. Nhà hát giao thêm một bản xuất sự kiện do đội nội bộ tạo trước đó. Minh Châu tiếp nhận nó như một bản sao có nguồn do nhà hát cung cấp, không dùng thay cho ảnh thu nhận độc lập.

Khi mở bản làm việc, danh sách quyền truy cập hiện ra trước. Có tài khoản vận hành tại chỗ, tài khoản bảo trì và một quyền hỗ trợ từ xa của nhà cung cấp. Quyền từ xa không đồng nghĩa nó đã được sử dụng trong sự cố.

Tấn Lộc nhìn tên quyền hỗ trợ. “Em chưa từng được cấp cái này.”

“Điều đó chỉ nói về quyền của em,” Quỳnh Dao nhắc. “Không nói ai đã dùng quyền kia.”

Nhật ký còn lưu một phiên remote trong khoảng thời gian gần buổi tổng duyệt. Mục ghi có tên tài khoản dịch vụ, thời điểm bắt đầu theo đồng hồ bàn điều khiển và định danh một thiết bị đầu cuối. Không có tên người tự nhiên.

Hạo Nhiên chỉ vào dòng tài khoản. “Đây là tài khoản của nhà cung cấp. Vậy trách nhiệm ở bên ngoài nhà hát.”

Minh Châu lắc đầu. “Tên tài khoản cho biết credential nào được hệ thống ghi nhận. Nó chưa xác định người giữ bàn phím, nơi thiết bị thực sự đặt, credential có được chia sẻ hay không, hoặc phiên đó đã làm gì.”

Đức Khải yêu cầu đối chiếu phiên bản bảng giao thức trước khi dịch bất kỳ mã lệnh nào. Bản hiện có chỉ cho thấy một phiên kết nối được ghi nhận; phần payload không đủ để kết luận lệnh điều khiển cụ thể. Đồng hồ bàn điều khiển cũng chưa được đồng bộ độc lập với đồng hồ bộ bảo vệ motor.

Tuệ An hỏi: “Có thể xếp phiên này trước hay sau `OVERLOAD` không?”

“Không,” Minh Châu đáp. “Hai nguồn dùng hai đồng hồ có sai lệch chưa được khóa. `OVERLOAD` vẫn chỉ nằm đâu đó trong cửa sổ sai số của nó.”

Quỳnh Dao lập bảng ba cột: điều đã quan sát, điều có thể kiểm tra tiếp, và điều chưa được phép kết luận. Phiên remote nằm ở cột đầu. Danh tính người thao tác nằm ở cột ba.

Nhà hát yêu cầu công bố ngay rằng dữ liệu cho thấy truy cập từ bên ngoài. Quỳnh Dao từ chối cụm “từ bên ngoài”. Định danh thiết bị và tên tài khoản chưa chứng minh vị trí vật lý hoặc quan hệ lao động của người sử dụng.

Cuộc tranh luận kết thúc khi Mộc Miên gửi cho Tuệ An ảnh một phong bì mới được chuyển tới bệnh viện. Bên trong là bản thỏa thuận im lặng giống văn bản buổi sáng, nhưng phần chữ ký đã có sẵn tên Mộc Miên dưới dòng “nghệ sĩ xác nhận sai điểm thả”. Cô chưa ký.

Quỳnh Dao yêu cầu Mộc Miên giữ nguyên phong bì, ghi người giao và không chuyển bản gốc qua Tuệ An. Đây là một tài liệu cần provenance riêng, chưa phải bằng chứng ai đã chỉ đạo tạo nó.

Tối đó, Tấn Lộc báo rằng công đoàn vừa nhận thêm ảnh từ đợt kiểm kê kho sau sự cố. Người chụp đã giao tệp gốc cùng metadata và xác nhận thời điểm, nhưng ảnh vẫn cần đối chiếu với sổ kho.

Trong ảnh, giá đối trọng có các ô đánh số bằng sơn cũ. Một khối gang nằm dưới sàn, ngoài dãy ô, bề mặt phủ lớp sơn đen còn mới hơn những khối xung quanh. Góc chụp không thấy mã đúc. Mặt mang số bị quay vào tường.

“Có phải số mười ba không?” Tấn Lộc hỏi.

“Không thể biết từ ảnh này,” Tuệ An nói.

Đức Khải phóng lớn bản làm việc, giữ nguyên tệp gốc. Anh chỉ vào vệt sơn trên tấm lót bên dưới.

“Chỉ có thể nói một khối gang mới sơn nằm ngoài giá đánh số tại thời điểm ảnh được tạo. Chưa biết khối nào, ai đặt, hay có liên quan sự cố.”

Tuệ An nhìn khoảng tối nơi mặt số bị che. Sau phiên remote không có con người và sự kiện quá tải không có thứ tự, họ lại có thêm một vật thể không có danh tính.

Nó có thể là đối trọng số mười ba. Nó cũng có thể không phải. Và cho đến khi có mã đúc, dấu mòn cùng custody độc lập, cái tên ấy vẫn chỉ là câu hỏi mà bức ảnh không thể trả lời.
