PHẦN 10

Buổi tái dựng kỹ thuật bắt đầu bằng việc kiểm tra hai số niêm phong của thùng LM-13. Đại diện công đoàn và pháp chế đọc số trước camera; Minh Châu đối chiếu biên nhận chuyển kho. Không có dấu mở lại kể từ lần cân.

Mandate lần này cho phép đo vật, đối chiếu cấu hình và chạy mô hình trên bộ khung thử không tải. Nó không cho phép vận hành hệ fly của Nhà hát Lam Giang hoặc biến mô hình thành bằng chứng về người thao tác.

Đức Khải trở lại với tư cách chuyên gia độc lập. Anh và Tuệ An vẫn nói với nhau bằng những câu ngắn, nhưng anh đặt sổ gốc lên bàn đối chiếu và tự giữ quyền giải thích ghi chú của mình.

“Ta bắt đầu từ điều đo được,” anh nói. “LM-13 nặng một trăm tám mươi bốn ki-lô-gam, sai số cân cộng trừ một trăm gram.”

Bảng cân tải chính thức ghi LM-13 ở một mức khác và mô tả rail mười ba như đã cân bằng với cụm giàn đèn trước tổng duyệt. Tuy nhiên, ba liên phiếu tải trong túi hồ sơ không cùng provenance: một liên có dấu tiếp nhận kho, một liên là bản làm việc không ghi người in, liên còn lại mang chữ ký Tuệ An nhưng mép xé không nối với hai tờ kia.

Quỳnh Dao yêu cầu từng nguồn được đặt ở cột riêng. “Không gọi tờ nào là bản gốc cho đến khi chứng minh được.”

Minh Châu chụp phổ giấy, vị trí lỗ ghim và đường cắt. Kết quả cho thấy liên có chữ ký Tuệ An được in từ cùng mẫu biểu, nhưng giấy và vệt máy in khác liên có dấu kho. Điều đó xác lập hai lần tạo vật lý khác nhau; chưa tự chứng minh tờ nào thay tờ nào.

Đức Khải dựng cấu hình trên phần mềm kỹ thuật bằng ba lớp. Lớp thứ nhất dùng khối lượng đo trực tiếp của LM-13. Lớp thứ hai dùng bảng tải do nhà hát cung cấp. Lớp thứ ba dùng vị trí rail trong ảnh bảo trì có provenance trước tai nạn.

Khi nhập nguyên bảng chính thức, mô hình cho trạng thái gần cân bằng theo các giả định về ma sát, tốc độ và cấu hình tải được nhập. Khi thay riêng giá trị LM-13 bằng một trăm tám mươi bốn ki-lô-gam mà giữ nguyên các giả định đó, hướng chênh lệch nghiêng về phía giàn. Mô hình không cung cấp một ngưỡng vận hành thực tế và không chứng minh bộ truyền động đã phải giữ tải thay vì chỉ định vị.

“Đây là mô hình,” Đức Khải nhắc. “Nó chưa nói cấu hình thật đêm đó giống lớp nào.”

Họ dùng ảnh tổng duyệt nhiều góc để đếm các khối còn nhìn thấy trên rail. Một góc bị che, nên không ai tuyên bố số lượng tuyệt đối. Nhưng ảnh bảo trì trước sự cố và ảnh sau sự cố cho thấy LM-13 từng thuộc dãy có dấu mòn tương ứng, rồi xuất hiện ngoài giá trong kho.

Tấn Lộc chỉ xác nhận điều cậu trực tiếp nhớ: trước tổng duyệt, cậu thấy một khoảng trống ở vị trí thứ mười ba; cậu không nhìn thấy ai tạo khoảng trống ấy. Lời nhớ được ghi là lời khai chưa đủ nhận dạng thời điểm di chuyển.

Minh Châu tiếp tục đối chiếu dữ liệu bàn điều khiển và bộ bảo vệ motor. Hai đồng hồ vẫn không đồng bộ đủ để xếp phiên remote, OVERLOAD, cue hoặc độ nghiêng theo thứ tự chính xác. Payload phiên remote cũng chưa dịch thành motor command. Vì vậy, cơ chế không được dựng từ tài khoản hay log.

Nó được kiểm tra trên khung thử.

Đội kỹ thuật đặt một tải mô phỏng theo khối lượng giàn đèn và một cụm đối trọng theo bảng chính thức. Hệ cân bằng trong giới hạn. Sau đó họ thay giá trị một khối bằng khối lượng thực đo của LM-13, không dùng chính vật niêm phong. Chênh lệch khiến phía tải sân khấu kéo xuống; bộ hãm giữ được khi đứng yên, nhưng lực trên đường truyền tăng rõ rệt.

Ở lần thử thứ ba, họ mô phỏng việc LM-13 không nằm trên rail trong khi hồ sơ vẫn tính nó trong tổng đối trọng. Hướng mất cân bằng tăng theo mô hình và có thể phù hợp với một trạng thái mà bộ bảo vệ ghi nhận quá tải, nếu các điều kiện thật tương tự giả định. Biên bản ghi rõ không có ngưỡng bảo vệ, ma sát, tốc độ, góc nghiêng hay trạng thái thật nào được tái tạo đầy đủ; đây là ngoại suy cơ học, không phải tái hiện sự kiện.

Tuệ An nhìn ba lớp kết quả. “Vậy điều gì đã được xác lập?”

Đức Khải trả lời chậm: “Nếu cấu hình thực thiếu LM-13 trong khi bảng tải vẫn tính khối đó, rail mười ba sẽ mất cân bằng về phía giàn đèn. Cơ chế vật lý ấy phù hợp với độ nghiêng và một sự kiện quá tải, nhưng không đặt OVERLOAD vào trình tự và không chứng minh motor đã nhận lệnh nào.”

Quỳnh Dao ghi thêm: cơ chế được hỗ trợ bởi khối lượng trực tiếp, nhận dạng vật thể, ảnh rail và mô hình độc lập; lịch sử ai di chuyển LM-13, thời điểm di chuyển và tài liệu nào chi phối cấu hình vẫn chưa biết.

Họ quay lại ba liên phiếu tải. Liên có dấu kho tính LM-13 trong tổng đối trọng. Liên mang chữ ký Tuệ An cũng giữ tên khối nhưng ghi tổng khác. Vì provenance chưa hoàn chỉnh, không thể kết luận substitution chỉ từ sai khác giấy, mép xé và con số.

Một nguồn mới xuất hiện trong kho lưu trữ công đoàn: bản quét email xác nhận tải được gửi trước tổng duyệt, có header máy chủ và tệp đính kèm băm khớp bản có dấu kho. Header và hash chỉ xác thực đường đi kỹ thuật cùng tính toàn vẹn của bản đính kèm trong phạm vi kiểm tra; chúng không xác thực người dùng tài khoản, ý chí, quyền phê duyệt hay việc người đó biết cấu hình vật lý. Nguồn này củng cố rằng bảng tính LM-13 từng được lưu hành trước sự cố. Nó không cho biết cấu hình vật lý sau đó có được kiểm lại hay ai đã cho phép thay đổi.

Đức Khải đặt bút xuống. “Bây giờ có thể nói cơ chế. Hồ sơ tính một khối mà cấu hình vật lý có khả năng không còn giữ khối đó. Khi phía giàn nặng hơn, hệ truyền động phải chống một tải không cân bằng. Nhưng cơ chế không phải danh tính.”

Tuệ An gật đầu. “Và email không phải người.”

Bản kết luận kỹ thuật được ký bởi Minh Châu, Đức Khải và hai quan sát viên. Đại diện nhà hát ký xác nhận đã chứng kiến, không ký đồng ý với mọi diễn giải. Quỳnh Dao đính kèm danh sách giới hạn thay vì xóa chúng để làm báo cáo mạnh hơn.

Cuối buổi, một trường dữ liệu trong header email được tách riêng: yêu cầu xác nhận tải đã đi qua hộp thư điều phối sản xuất trước khi tới kho. Trường ấy mở đường truy người có quyền gửi và phê duyệt, nhưng chưa xác định ai đã sử dụng quyền.

Cơ chế mất cân bằng đã đứng được trên vật đo, cấu hình và thử nghiệm độc lập. Câu hỏi còn lại không còn là hệ thống có thể nghiêng như thế nào.

Câu hỏi tiếp theo là lớp quyền hoặc quy trình nào đã để một hồ sơ vẫn tính LM-13 tồn tại bên cạnh một rail có thể đã thiếu chính khối đó. Câu hỏi ấy cần được trả lời bằng provenance độc lập, không bằng suy đoán từ header, tài khoản hoặc log.