1 00:00:00,000 --> 00:00:02,430 Cuộc đời Lý Thường Kiệt trải dài trong một giai đoạn Đại 2 00:00:02,520 --> 00:00:05,530 Việt đang vươn lên mạnh mẽ. Sau khi giành được nền tự 3 00:00:05,620 --> 00:00:08,370 chủ lâu dài từ thế kỷ X, đất nước dưới các triều 4 00:00:08,460 --> 00:00:11,290 Đinh, Tiền Lê và Lý từng bước xây dựng bộ máy nhà 5 00:00:11,380 --> 00:00:14,690 nước, củng cố quân đội, phát triển văn hóa và khẳng định 6 00:00:14,780 --> 00:00:18,340 vị thế trước các thế lực lớn trong khu vực. Nhà Lý, 7 00:00:18,540 --> 00:00:21,510 đặc biệt từ thời Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh 8 00:00:21,600 --> 00:00:24,250 Tông đến Lý Nhân Tông, đã đưa Đại Việt vào một thời 9 00:00:24,340 --> 00:00:27,490 kỳ ổn định và phát triển. Nhưng sự ổn định ấy không 10 00:00:27,580 --> 00:00:31,550 đến một cách dễ dàng. Ở phía bắc là nhà Tống, một 11 00:00:31,640 --> 00:00:34,390 đế quốc lớn luôn xem vùng biên giới phương nam là khu 12 00:00:34,480 --> 00:00:38,370 vực cần kiểm soát. Ở phía nam là Champa, một vương quốc 13 00:00:38,460 --> 00:00:41,790 nhiều lần xung đột với Đại Việt. Trong bối cảnh ấy, Đại 14 00:00:41,880 --> 00:00:44,790 Việt cần những người vừa có tài quân sự, vừa có bản 15 00:00:44,880 --> 00:00:48,510 lĩnh chính trị, vừa có khả năng nhìn xa. Lý Thường Kiệt 16 00:00:48,600 --> 00:00:51,670 chính là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất. Lý Thường 17 00:00:51,760 --> 00:00:55,310 Kiệt tên thật thường được ghi là Ngô Tuấn. Ông sinh năm 18 00:00:55,400 --> 00:00:59,750 1019, tại phường Thái Hòa, thành Thăng Long, trong một gia đình 19 00:00:59,840 --> 00:01:03,890 có truyền thống làm quan. Cha ông là Ngô An Ngữ, từng 20 00:01:03,980 --> 00:01:07,270 giữ chức quan trong triều. Từ nhỏ, Ngô Tuấn đã được giáo 21 00:01:07,360 --> 00:01:10,270 dục trong môi trường gần gũi với triều đình, có điều kiện 22 00:01:10,360 --> 00:01:13,650 học tập chữ nghĩa, võ nghệ và lễ nghi. Ông lớn lên 23 00:01:13,740 --> 00:01:16,610 giữa kinh đô Thăng Long, nơi đang trở thành trung tâm chính 24 00:01:16,700 --> 00:01:20,470 trị, văn hóa và quân sự của Đại Việt thời Lý. Theo 25 00:01:20,560 --> 00:01:23,670 sử sách, Ngô Tuấn từ trẻ đã nổi bật vì dung mạo 26 00:01:23,760 --> 00:01:26,980 khôi ngô, tính cách cẩn trọng, thông minh và có chí lớn. 27 00:01:27,960 --> 00:01:31,630 Ông sớm vào cung phục vụ triều đình. Sau này, vì có 28 00:01:31,720 --> 00:01:34,590 công lao và được vua tin dùng, ông được ban quốc tính 29 00:01:34,680 --> 00:01:38,130 họ Lý, nên thường được biết đến với tên Lý Thường Kiệt. 30 00:01:38,220 --> 00:01:41,210 Trong lịch sử phong kiến, việc được ban quốc tính là một 31 00:01:41,300 --> 00:01:44,250 vinh dự lớn, cho thấy vị trí đặc biệt của ông trong 32 00:01:44,340 --> 00:01:47,310 triều đình nhà Lý. Lý Thường Kiệt không phải chỉ là một 33 00:01:47,400 --> 00:01:50,750 võ tướng thuần túy. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng 34 00:01:50,840 --> 00:01:53,610 trong cung đình và quân đội. Điều này giúp ông hiểu rất 35 00:01:53,700 --> 00:01:56,540 rõ cách vận hành của triều đình, tâm lý của vua quan, 36 00:01:56,880 --> 00:01:59,540 tình hình biên giới và nhu cầu thực tế của đất nước. 37 00:02:00,140 --> 00:02:02,470 Một vị tướng chỉ biết đánh trận có thể thắng một vài 38 00:02:02,560 --> 00:02:06,490 trận. Nhưng một vị tướng hiểu chính trị, hiểu ngoại giao và 39 00:02:06,580 --> 00:02:10,010 hiểu thế nước mới có thể tạo ra chiến lược lớn. Lý 40 00:02:10,100 --> 00:02:13,650 Thường Kiệt thuộc kiểu thứ hai. Thời trẻ của ông gắn với 41 00:02:13,740 --> 00:02:16,710 triều Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông. Đây là giai đoạn 42 00:02:16,800 --> 00:02:19,910 nhà Lý tiếp tục củng cố quyền lực trung ương, phát triển 43 00:02:20,000 --> 00:02:23,630 Phật giáo, mở mang kinh tế và tổ chức quân đội. Đại 44 00:02:23,720 --> 00:02:26,210 Việt lúc ấy chưa phải một quốc gia rộng lớn như về 45 00:02:26,300 --> 00:02:29,530 sau, nhưng đã có nền tảng chính trị khá vững. Nhà Lý 46 00:02:29,620 --> 00:02:32,700 biết kết hợp giữa triều đình trung ương, lực lượng quý tộc, 47 00:02:32,920 --> 00:02:35,810 các tù trưởng miền núi và quân đội địa phương. Chính cấu 48 00:02:35,900 --> 00:02:38,150 trúc ấy giúp Đại Việt có khả năng huy động sức mạnh 49 00:02:38,240 --> 00:02:41,010 khi chiến tranh xảy ra. Một trong những đóng góp sớm của 50 00:02:41,100 --> 00:02:43,530 Lý Thường Kiệt là trong các hoạt động quân sự ở phía 51 00:02:43,620 --> 00:02:47,430 nam. Đại Việt và Champa có quan hệ phức tạp, lúc hòa 52 00:02:47,520 --> 00:02:52,330 hiếu, lúc xung đột. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh 53 00:02:52,420 --> 00:02:55,850 đánh Champa. Lý Thường Kiệt tham gia chiến dịch này và lập 54 00:02:55,940 --> 00:02:59,190 công lớn. Quân Đại Việt tiến sâu vào đất Chiêm, bắt được 55 00:02:59,280 --> 00:03:03,290 vua Champa là Chế Củ. Sau đó, Chế Củ phải dâng ba 56 00:03:03,380 --> 00:03:06,560 châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh để được tha về. 57 00:03:07,100 --> 00:03:09,490 Đây là một bước mở rộng lãnh thổ quan trọng về phía 58 00:03:09,580 --> 00:03:12,590 nam, đặt nền tảng cho quá trình Nam tiến lâu dài trong 59 00:03:12,680 --> 00:03:16,330 lịch sử Việt Nam. Chiến dịch Champa cho thấy Lý Thường Kiệt 60 00:03:16,420 --> 00:03:19,070 là người có kinh nghiệm quân sự thực tế trước khi bước 61 00:03:19,160 --> 00:03:22,930 vào cuộc đối đầu lớn với nhà Tống. Ông hiểu rằng chiến 62 00:03:23,020 --> 00:03:25,870 tranh không chỉ là xung phong đánh trận, mà còn là hậu 63 00:03:25,960 --> 00:03:29,390 cần, địa hình, tốc độ hành quân, sự phối hợp giữa thủy 64 00:03:29,480 --> 00:03:32,410 quân và bộ binh, cũng như cách kết thúc chiến tranh bằng 65 00:03:32,500 --> 00:03:35,290 điều kiện chính trị có lợi. Những kinh nghiệm ấy sau này 66 00:03:35,380 --> 00:03:38,590 trở thành nền tảng cho chiến lược chống Tống. Sau khi Lý 67 00:03:38,680 --> 00:03:42,510 Thánh Tông mất năm 1072, Lý Nhân Tông lên ngôi khi còn 68 00:03:42,600 --> 00:03:46,410 nhỏ. Triều đình do Thái hậu Ỷ Lan, Thái sư Lý Đạo 69 00:03:46,500 --> 00:03:49,470 Thành và các đại thần phụ chính. Trong bối cảnh vua còn 70 00:03:49,560 --> 00:03:53,270 nhỏ, nguy cơ từ bên ngoài trở nên nghiêm trọng hơn. Nhà 71 00:03:53,360 --> 00:03:55,920 Tống ở phương bắc lúc ấy đang dưới thời Tống Thần Tông, 72 00:03:56,140 --> 00:03:58,570 với tể tướng Vương An Thạch tiến hành cải cách để tăng 73 00:03:58,660 --> 00:04:01,650 cường sức mạnh quốc gia. Triều Tống gặp nhiều khó khăn ở 74 00:04:01,740 --> 00:04:04,490 phía bắc với Liêu và Tây Hạ, nhưng cũng muốn tạo thế 75 00:04:04,580 --> 00:04:07,470 chủ động ở phía nam. Đại Việt bị xem là mục tiêu 76 00:04:07,560 --> 00:04:10,390 có thể tấn công nhằm củng cố uy thế và giải quyết 77 00:04:10,480 --> 00:04:13,410 một phần áp lực chính trị nội bộ. Lý Thường Kiệt nhận 78 00:04:13,500 --> 00:04:16,950 ra nguy cơ ấy rất sớm. Đây là điểm làm ông trở 79 00:04:17,040 --> 00:04:20,270 nên đặc biệt. Nhiều người khi đối diện một đế quốc lớn 80 00:04:20,360 --> 00:04:23,130 thường chọn cách phòng thủ bị động, chờ đối phương kéo quân 81 00:04:23,220 --> 00:04:26,580 sang rồi chống đỡ. Nhưng Lý Thường Kiệt không nghĩ như vậy. 82 00:04:27,360 --> 00:04:30,130 Ông hiểu rằng nếu để nhà Tống chuẩn bị đầy đủ lương 83 00:04:30,220 --> 00:04:33,110 thảo, quân đội, kho tàng và căn cứ hậu cần ở biên 84 00:04:33,200 --> 00:04:36,800 giới, Đại Việt sẽ rơi vào thế bất lợi. Muốn giữ nước, 85 00:04:37,020 --> 00:04:39,550 đôi khi phải đánh trước để phá thế chuẩn bị của kẻ 86 00:04:39,640 --> 00:04:42,950 thù. Từ nhận định ấy, Lý Thường Kiệt đề xuất chiến lược 87 00:04:43,040 --> 00:04:46,330 “tiên phát chế nhân”, tức ra tay trước để khống chế đối 88 00:04:46,420 --> 00:04:50,170 phương. Đây là một tư duy quân sự táo bạo. Nó không 89 00:04:50,260 --> 00:04:53,230 phải hành động xâm lược nhằm chiếm đất lâu dài, mà là 90 00:04:53,320 --> 00:04:56,370 một đòn phủ đầu nhằm phá căn cứ chuẩn bị chiến tranh 91 00:04:56,460 --> 00:05:00,140 của nhà Tống. Mục tiêu của ông là các châu Ung, Khâm, 92 00:05:00,340 --> 00:05:03,090 Liêm ở vùng Quảng Tây và Quảng Đông ngày nay, nơi quân 93 00:05:03,180 --> 00:05:06,010 Tống đang tập trung lương thảo, khí giới và lực lượng cho 94 00:05:06,100 --> 00:05:10,450 cuộc tiến công Đại Việt. Năm 1075, Lý Thường Kiệt cùng Tông 95 00:05:10,540 --> 00:05:13,670 Đản chỉ huy đại quân tiến sang đất Tống. Quân Đại Việt 96 00:05:13,760 --> 00:05:16,910 chia làm nhiều mũi, thủy bộ phối hợp. Các lực lượng miền 97 00:05:17,000 --> 00:05:19,450 núi do các tù trưởng như Thân Cảnh Phúc phối hợp hoạt 98 00:05:19,540 --> 00:05:23,210 động ở vùng biên. Quân Đại Việt đánh vào Khâm Châu, Liêm 99 00:05:23,300 --> 00:05:26,850 Châu, rồi tiến đến Ung Châu, căn cứ quan trọng của nhà 100 00:05:26,940 --> 00:05:30,190 Tống. Chiến dịch này là một trong những chiến công đặc biệt 101 00:05:30,280 --> 00:05:33,310 nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam. Một quốc gia nhỏ 102 00:05:33,400 --> 00:05:36,230 hơn đã chủ động đánh vào lãnh thổ của đế quốc lớn 103 00:05:36,320 --> 00:05:39,570 để phá thế tấn công. Quân Đại Việt không đánh theo kiểu 104 00:05:39,660 --> 00:05:42,830 cướp phá vô tổ chức. Lý Thường Kiệt còn cho ban bố 105 00:05:42,920 --> 00:05:45,950 bài hịch Phạt Tống lộ bố, nêu rõ lý do xuất quân 106 00:05:46,040 --> 00:05:48,450 là để cứu dân khỏi chính sách hà khắc của nhà Tống 107 00:05:48,540 --> 00:05:51,610 và ngăn âm mưu xâm lược Đại Việt. Dù lời hịch có 108 00:05:51,700 --> 00:05:54,670 tính tuyên truyền chiến tranh, nó cho thấy Lý Thường Kiệt hiểu 109 00:05:54,760 --> 00:05:57,720 rất rõ sức mạnh của chính nghĩa và tâm lý dân chúng. 110 00:05:58,440 --> 00:06:01,190 Ung Châu là mục tiêu quan trọng nhất. Thành này được phòng 111 00:06:01,280 --> 00:06:05,170 thủ kiên cố, do Tô Giám trấn giữ. Quân Đại Việt vây 112 00:06:05,260 --> 00:06:09,210 thành trong thời gian dài. Cuộc vây hãm rất ác liệt. Cuối 113 00:06:09,300 --> 00:06:13,050 cùng, thành Ung Châu thất thủ. Kho tàng, lương thảo và cơ 114 00:06:13,140 --> 00:06:16,570 sở quân sự của nhà Tống bị phá hủy nghiêm trọng. Sau 115 00:06:16,660 --> 00:06:19,230 khi đạt mục tiêu, Lý Thường Kiệt chủ động rút quân về 116 00:06:19,320 --> 00:06:24,250 nước, không sa lầy trên đất Tống. Đòn đánh năm 1075 làm 117 00:06:24,340 --> 00:06:27,010 triều Tống chấn động. Nhà Tống quyết định mở cuộc tiến công 118 00:06:27,100 --> 00:06:29,650 lớn xuống Đại Việt để trả đũa và thực hiện mục tiêu 119 00:06:29,740 --> 00:06:34,710 xâm lược. Năm 1076, quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết 120 00:06:34,800 --> 00:06:38,030 chỉ huy tiến xuống phía nam. Đạo quân bộ binh lớn đi 121 00:06:38,120 --> 00:06:41,290 qua đường Quảng Tây, trong khi thủy quân Tống dự định phối 122 00:06:41,380 --> 00:06:44,820 hợp theo đường biển. Nhưng Lý Thường Kiệt đã chuẩn bị trước. 123 00:06:45,620 --> 00:06:48,130 Ông hiểu rằng Đại Việt không nên đem toàn bộ lực lượng 124 00:06:48,220 --> 00:06:51,530 ra đánh trực diện ngay từ đầu. Quân Tống đông, được tổ 125 00:06:51,620 --> 00:06:54,690 chức tốt, có kinh nghiệm và khí giới mạnh. Nếu đánh một 126 00:06:54,780 --> 00:06:57,670 trận quyết định ở biên giới trong thế bất lợi, Đại Việt 127 00:06:57,760 --> 00:07:01,090 có thể chịu tổn thất lớn. Vì vậy, Lý Thường Kiệt xây 128 00:07:01,180 --> 00:07:04,150 dựng phòng tuyến trên sông Như Nguyệt, tức sông Cầu ngày nay. 129 00:07:04,240 --> 00:07:07,270 Đây là một phòng tuyến tự nhiên kết hợp với công sự 130 00:07:07,360 --> 00:07:10,380 nhân tạo, nằm ở vị trí chặn đường tiến về Thăng Long. 131 00:07:10,640 --> 00:07:13,030 Phòng tuyến Như Nguyệt là biểu hiện rõ nhất của tài năng 132 00:07:13,120 --> 00:07:16,330 phòng thủ chiến lược của Lý Thường Kiệt. Ông tận dụng dòng 133 00:07:16,420 --> 00:07:19,950 sông làm hào tự nhiên, xây lũy đất, cắm tre, bố trí 134 00:07:20,040 --> 00:07:22,910 quân phòng thủ ở bờ nam. Quân Tống muốn tiến vào trung 135 00:07:23,000 --> 00:07:25,930 tâm Đại Việt thì phải vượt sông trong điều kiện bị quân 136 00:07:26,020 --> 00:07:29,170 Đại Việt chống trả. Đây là cách biến ưu thế đông quân 137 00:07:29,260 --> 00:07:32,110 của đối phương thành bất lợi, buộc họ phải dừng lại trước 138 00:07:32,200 --> 00:07:35,670 một chướng ngại khó vượt. Trong khi đó, thủy quân Tống bị 139 00:07:35,760 --> 00:07:38,630 quân Đại Việt chặn đánh, không thể phối hợp hiệu quả với 140 00:07:38,720 --> 00:07:42,110 bộ binh. Quân Tống tiến sâu vào vùng đất lạ, đường tiếp 141 00:07:42,200 --> 00:07:45,670 tế kéo dài, khí hậu không quen, bệnh tật và thiếu lương 142 00:07:45,760 --> 00:07:48,860 trở thành vấn đề lớn. Lý Thường Kiệt chủ trương cầm cự, 143 00:07:49,280 --> 00:07:52,220 tiêu hao, làm suy giảm tinh thần địch trước khi phản công. 144 00:07:52,720 --> 00:07:55,980 Đây là nghệ thuật chiến tranh rất tỉnh táo: không nóng vội, 145 00:07:56,340 --> 00:07:59,190 không ham thắng nhanh, mà buộc địch rơi vào thế mệt mỏi. 146 00:07:59,280 --> 00:08:02,610 Chính tại phòng tuyến Như Nguyệt, bài thơ Nam quốc sơn hà 147 00:08:02,700 --> 00:08:05,930 được truyền tụng. Theo sử liệu, bài thơ được đọc vang trong 148 00:08:06,020 --> 00:08:09,270 đền Trương Hống, Trương Hát để khích lệ quân sĩ. Nội dung 149 00:08:09,360 --> 00:08:12,870 bài thơ khẳng định: Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt 150 00:08:12,960 --> 00:08:15,910 nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm 151 00:08:16,000 --> 00:08:19,370 phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Dịch nghĩa thường hiểu 152 00:08:19,460 --> 00:08:23,190 là: Sông núi nước Nam, vua Nam ở, Rành rành định phận 153 00:08:23,280 --> 00:08:27,050 tại sách trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, Chúng bay 154 00:08:27,140 --> 00:08:30,390 sẽ bị đánh tơi bời. Dù vẫn còn tranh luận về tác 155 00:08:30,480 --> 00:08:33,350 giả và hoàn cảnh chính xác của bài thơ, trong truyền thống 156 00:08:33,440 --> 00:08:36,470 lịch sử Việt Nam, Nam quốc sơn hà gắn chặt với Lý 157 00:08:36,560 --> 00:08:39,630 Thường Kiệt và cuộc kháng chiến chống Tống. Bài thơ có ý 158 00:08:39,720 --> 00:08:42,270 nghĩa lớn vì nó khẳng định chủ quyền của Đại Việt bằng 159 00:08:42,360 --> 00:08:45,800 một giọng điệu mạnh mẽ, dứt khoát. Nó không chỉ động viên 160 00:08:46,100 --> 00:08:48,570 quân sĩ, mà còn tuyên bố rằng Đại Việt là một quốc 161 00:08:48,660 --> 00:08:52,250 gia có cương vực, có vua, có quyền tồn tại độc lập, 162 00:08:52,340 --> 00:08:55,560 không thể bị phương Bắc tùy tiện xâm phạm. Trên phòng tuyến 163 00:08:55,760 --> 00:08:58,820 Như Nguyệt, quân Tống nhiều lần tìm cách vượt sông nhưng bị 164 00:08:59,020 --> 00:09:02,950 chặn đứng. Càng kéo dài, họ càng rơi vào thế khó. Lý 165 00:09:03,040 --> 00:09:06,500 Thường Kiệt sau đó tổ chức phản công, đánh mạnh vào doanh 166 00:09:06,700 --> 00:09:10,370 trại địch. Quân Tống bị tổn thất, tinh thần suy giảm. Tuy 167 00:09:10,460 --> 00:09:13,650 nhiên, Lý Thường Kiệt không chọn tiêu diệt đến cùng bằng mọi 168 00:09:13,740 --> 00:09:17,380 giá. Ông hiểu rằng chiến tranh kéo dài sẽ làm Đại Việt 169 00:09:17,520 --> 00:09:20,550 kiệt quệ. Vì vậy, khi đã nắm thế chủ động, ông chủ 170 00:09:20,640 --> 00:09:23,870 trương giảng hòa, mở đường cho quân Tống rút về. Quyết định 171 00:09:23,960 --> 00:09:27,250 ấy cho thấy tầm vóc chính trị của Lý Thường Kiệt. Một 172 00:09:27,340 --> 00:09:30,370 vị tướng bình thường có thể chỉ nghĩ đến chiến thắng quân 173 00:09:30,460 --> 00:09:32,960 sự. Nhưng Lý Thường Kiệt nghĩ đến lợi ích lâu dài của 174 00:09:33,460 --> 00:09:36,290 đất nước. Mục tiêu của Đại Việt không phải chiếm đất Tống, 175 00:09:36,380 --> 00:09:39,490 cũng không phải kéo dài chiến tranh để lấy danh tiếng. Mục 176 00:09:39,580 --> 00:09:42,870 tiêu là bảo vệ độc lập, giữ vững biên cương, giảm tổn 177 00:09:42,960 --> 00:09:46,330 thất cho dân và buộc đối phương từ bỏ ý định xâm 178 00:09:46,420 --> 00:09:49,930 lược. Khi mục tiêu ấy đạt được, hòa hoãn là lựa chọn 179 00:09:50,020 --> 00:09:52,710 khôn ngoan. Cuộc kháng chiến chống Tống kết thúc với thắng lợi 180 00:09:52,800 --> 00:09:56,490 của Đại Việt. Nhà Tống không đạt được mục tiêu xâm lược. 181 00:09:56,580 --> 00:09:59,870 Đại Việt bảo vệ được kinh đô, giữ được nền độc lập 182 00:09:59,960 --> 00:10:03,150 và khẳng định vị thế trước một đế quốc lớn. Chiến thắng 183 00:10:03,240 --> 00:10:05,890 này là một trong những mốc son của lịch sử dân tộc, 184 00:10:05,980 --> 00:10:09,210 sánh cùng các cuộc kháng chiến lớn chống ngoại xâm về sau. 185 00:10:09,300 --> 00:10:12,070 Sau chiến tranh, Lý Thường Kiệt tiếp tục giữ vai trò quan 186 00:10:12,160 --> 00:10:15,550 trọng trong triều đình. Ông không chỉ là người chiến thắng quân 187 00:10:15,640 --> 00:10:18,830 Tống, mà còn là trụ cột của nhà Lý trong nhiều năm. 188 00:10:18,920 --> 00:10:22,050 Ông tham gia quản lý đất nước, giữ ổn định triều chính 189 00:10:22,140 --> 00:10:25,330 và tiếp tục bảo vệ biên giới. Uy tín của ông rất 190 00:10:25,420 --> 00:10:28,510 lớn, không chỉ trong quân đội mà còn trong dân gian. Một 191 00:10:28,600 --> 00:10:30,850 đóng góp quan trọng khác của Lý Thường Kiệt là trong việc 192 00:10:30,940 --> 00:10:33,950 củng cố vùng biên. Đại Việt thời Lý không chỉ phải đối 193 00:10:34,040 --> 00:10:36,690 phó với các triều đại phương Bắc, mà còn phải duy trì 194 00:10:36,780 --> 00:10:39,610 quan hệ với các tù trưởng miền núi, các cộng đồng dân 195 00:10:39,700 --> 00:10:42,750 tộc ở vùng biên giới và các thế lực địa phương. Lý 196 00:10:42,840 --> 00:10:46,030 Thường Kiệt hiểu rằng biên cương không thể giữ chỉ bằng quân 197 00:10:46,120 --> 00:10:48,990 từ kinh đô đưa lên. Nó cần sự gắn kết giữa triều 198 00:10:49,080 --> 00:10:52,210 đình và lực lượng địa phương. Việc phối hợp với các tù 199 00:10:52,300 --> 00:10:55,070 trưởng trong chiến dịch chống Tống cho thấy ông biết tận dụng 200 00:10:55,160 --> 00:10:58,980 sức mạnh toàn quốc, không chỉ dựa vào quân chính quy. Ở 201 00:10:59,140 --> 00:11:02,090 phía nam, sau chiến dịch Champa và những biến động tiếp theo, 202 00:11:02,180 --> 00:11:05,980 Đại Việt tiếp tục củng cố vị thế. Ba châu Bố Chính, 203 00:11:06,260 --> 00:11:08,990 Địa Lý, Ma Linh được sáp nhập vào Đại Việt, mở rộng 204 00:11:09,080 --> 00:11:12,050 không gian sinh tồn về phía nam. Dù quá trình Nam tiến 205 00:11:12,140 --> 00:11:14,670 còn kéo dài nhiều thế kỷ, thời Lý đã đặt những viên 206 00:11:14,760 --> 00:11:17,470 gạch quan trọng đầu tiên. Lý Thường Kiệt là một trong những 207 00:11:17,560 --> 00:11:21,130 người góp phần vào bước chuyển ấy. Di sản quân sự của 208 00:11:21,220 --> 00:11:24,830 Lý Thường Kiệt có thể nhìn qua ba điểm lớn. Thứ nhất 209 00:11:24,920 --> 00:11:27,790 là tư duy chủ động chiến lược. Chiến dịch đánh sang đất 210 00:11:27,880 --> 00:11:31,530 Tống năm 1075 cho thấy ông không bị trói buộc bởi tâm 211 00:11:31,620 --> 00:11:35,090 lý phòng thủ thụ động. Ông hiểu rằng muốn phòng thủ hiệu 212 00:11:35,180 --> 00:11:38,670 quả, đôi khi phải đánh vào nơi đối phương chuẩn bị tấn 213 00:11:38,760 --> 00:11:41,390 công. Đây là tư duy rất hiện đại: phòng ngự không chỉ 214 00:11:41,480 --> 00:11:45,290 là chờ địch đến, mà là phá thế địch từ trước. Thứ 215 00:11:45,380 --> 00:11:48,270 hai là nghệ thuật kết hợp tiến công và phòng thủ. Sau 216 00:11:48,360 --> 00:11:51,850 khi đánh phủ đầu, ông rút về xây phòng tuyến Như Nguyệt. 217 00:11:51,940 --> 00:11:56,120 Khi địch mạnh, ông phòng thủ tiêu hao. Khi địch suy, ông 218 00:11:56,440 --> 00:11:59,750 phản công. Khi đã đạt mục tiêu, ông chủ động hòa. Cả 219 00:11:59,840 --> 00:12:03,090 chuỗi hành động ấy cho thấy một chiến lược hoàn chỉnh, không 220 00:12:03,180 --> 00:12:06,350 phải những phản ứng rời rạc. Thứ ba là chiến tranh tâm 221 00:12:06,440 --> 00:12:09,980 lý và chính nghĩa. Từ Phạt Tống lộ bố đến Nam quốc 222 00:12:10,120 --> 00:12:12,690 sơn hà, Lý Thường Kiệt hiểu rằng tinh thần quân dân có 223 00:12:12,780 --> 00:12:15,910 thể quyết định cục diện. Một đội quân chiến đấu vì niềm 224 00:12:16,000 --> 00:12:18,770 tin bảo vệ đất nước sẽ có sức mạnh khác hẳn một 225 00:12:18,860 --> 00:12:22,550 đội quân chỉ bị ép ra trận. Ông biết dùng lời nói, 226 00:12:22,640 --> 00:12:25,170 biểu tượng và niềm tin để biến cuộc kháng chiến thành sự 227 00:12:25,260 --> 00:12:28,250 nghiệp chung của cả dân tộc. Lý Thường Kiệt cũng là biểu 228 00:12:28,340 --> 00:12:31,660 tượng của lòng trung thành với triều Lý. Ông phục vụ nhiều 229 00:12:31,760 --> 00:12:35,290 đời vua, từ Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông đến Lý Nhân 230 00:12:35,380 --> 00:12:37,990 Tông. Trong thời Lý Nhân Tông còn nhỏ, triều đình có nhiều 231 00:12:38,080 --> 00:12:41,450 yếu tố phức tạp, nhưng Lý Thường Kiệt vẫn giữ vai trò 232 00:12:41,540 --> 00:12:44,560 ổn định. Ông không dùng uy tín quân sự để lấn át 233 00:12:44,660 --> 00:12:47,210 hoàng quyền, mà đặt tài năng của mình vào việc bảo vệ 234 00:12:47,300 --> 00:12:50,090 triều đại và đất nước. Đây là điểm quan trọng trong đánh 235 00:12:50,180 --> 00:12:53,270 giá các công thần thời phong kiến. Dân gian về sau tôn 236 00:12:53,360 --> 00:12:56,390 kính Lý Thường Kiệt như một vị anh hùng bảo quốc. Tên 237 00:12:56,480 --> 00:12:59,950 ông được đặt cho nhiều đường phố, trường học, công trình và 238 00:13:00,040 --> 00:13:03,390 địa danh. Ở nhiều nơi, người dân lập đền thờ ông, nhớ 239 00:13:03,480 --> 00:13:06,350 đến công lao chống Tống và giữ nước. Hình ảnh Lý Thường 240 00:13:06,440 --> 00:13:09,390 Kiệt gắn với dáng vẻ của một vị tướng văn võ song 241 00:13:09,480 --> 00:13:13,190 toàn: cứng rắn khi cần đánh, mềm dẻo khi cần hòa, táo 242 00:13:13,280 --> 00:13:17,150 bạo khi phải ra tay trước, thận trọng khi phải giữ thế 243 00:13:17,240 --> 00:13:20,410 nước. Tuy nhiên, khi kể về Lý Thường Kiệt, cũng cần nhìn 244 00:13:20,500 --> 00:13:23,720 ông trong bối cảnh lịch sử thật sự. Ông sống trong thời 245 00:13:23,940 --> 00:13:27,030 phong kiến, nơi chiến tranh, mở rộng lãnh thổ, tranh chấp quyền 246 00:13:27,120 --> 00:13:29,960 lực và quan hệ triều cống là thực tế bình thường của 247 00:13:30,660 --> 00:13:33,170 khu vực. Những quyết định quân sự của ông, kể cả việc 248 00:13:33,260 --> 00:13:36,310 đánh sang đất Tống, không thể hiểu theo nghĩa đơn giản của 249 00:13:36,400 --> 00:13:39,110 thời hiện đại, mà phải đặt trong bối cảnh nhà Tống đang 250 00:13:39,200 --> 00:13:43,050 chuẩn bị chiến tranh và Đại Việt cần tự vệ. Chính vì 251 00:13:43,140 --> 00:13:46,950 vậy, chiến dịch năm 1075 được xem là đòn phủ đầu chiến 252 00:13:47,040 --> 00:13:50,070 lược nhằm bảo vệ đất nước, chứ không phải cuộc xâm lược 253 00:13:50,160 --> 00:13:54,850 nhằm thôn tính lâu dài. Lý Thường Kiệt mất năm 1105, thọ 254 00:13:54,940 --> 00:13:57,930 khoảng 86 tuổi. Cuộc đời ông kéo dài gần trọn một thế 255 00:13:58,020 --> 00:14:01,250 kỷ đầy biến động của nhà Lý. Khi ông qua đời, Đại 256 00:14:01,340 --> 00:14:04,340 Việt đã vượt qua một trong những thử thách lớn nhất từ 257 00:14:04,560 --> 00:14:08,140 phương Bắc, biên cương được giữ vững, uy thế quốc gia được 258 00:14:08,240 --> 00:14:10,980 nâng cao. Ông để lại một di sản lớn trong ký ức 259 00:14:11,220 --> 00:14:13,990 dân tộc. Nếu nhìn lại toàn bộ cuộc đời Lý Thường Kiệt, 260 00:14:14,080 --> 00:14:16,890 ta thấy một con người có tầm vóc hiếm có. Ông không 261 00:14:16,980 --> 00:14:20,190 chỉ thắng trận, mà còn biết chọn thời điểm đánh, biết chọn 262 00:14:20,280 --> 00:14:23,910 nơi phòng thủ, biết khi nào phản công và khi nào hòa. 263 00:14:24,000 --> 00:14:26,630 Ông không chỉ bảo vệ lãnh thổ, mà còn góp phần khẳng 264 00:14:26,720 --> 00:14:29,410 định ý thức chủ quyền của Đại Việt. Ông không chỉ là 265 00:14:29,500 --> 00:14:32,590 danh tướng của triều Lý, mà là một trong những biểu tượng 266 00:14:32,680 --> 00:14:35,770 lớn của truyền thống chống ngoại xâm Việt Nam. Chiến công của 267 00:14:35,860 --> 00:14:38,770 ông ở Ung Châu thể hiện sự táo bạo. Phòng tuyến Như 268 00:14:38,860 --> 00:14:41,950 Nguyệt thể hiện sự vững vàng. Nam quốc sơn hà thể hiện 269 00:14:42,040 --> 00:14:45,290 tinh thần độc lập. Việc chủ động giảng hòa sau khi thắng 270 00:14:45,380 --> 00:14:48,310 thế thể hiện sự khôn ngoan chính trị. Tất cả những điều 271 00:14:48,400 --> 00:14:51,760 ấy tạo nên một Lý Thường Kiệt không đơn giản là người 272 00:14:51,900 --> 00:14:54,870 cầm quân, mà là nhà chiến lược lớn. Trong dòng chảy lịch 273 00:14:54,960 --> 00:14:57,670 sử Việt Nam, mỗi thời đại chống ngoại xâm đều có những 274 00:14:57,760 --> 00:15:01,230 gương mặt tiêu biểu. Thế kỷ X có Ngô Quyền với Bạch 275 00:15:01,320 --> 00:15:04,750 Đằng. Thế kỷ XI có Lý Thường Kiệt với Như Nguyệt. Thế 276 00:15:04,840 --> 00:15:07,550 kỷ XIII có Trần Hưng Đạo với ba lần kháng chiến chống 277 00:15:07,640 --> 00:15:10,870 Nguyên Mông. Thế kỷ XV có Lê Lợi và Nguyễn Trãi với 278 00:15:10,960 --> 00:15:14,550 khởi nghĩa Lam Sơn. Những con người ấy khác nhau về thời 279 00:15:14,640 --> 00:15:18,010 đại, hoàn cảnh và phương pháp, nhưng cùng gặp nhau ở một 280 00:15:18,100 --> 00:15:21,150 điểm: khi đất nước đứng trước nguy cơ, họ biết đặt vận 281 00:15:21,240 --> 00:15:24,270 mệnh quốc gia lên trên tất cả. Lý Thường Kiệt là một 282 00:15:24,360 --> 00:15:27,150 trong những người đã giúp Đại Việt chứng minh rằng một quốc 283 00:15:27,240 --> 00:15:30,130 gia không cần quá rộng lớn mới có thể giữ được độc 284 00:15:30,220 --> 00:15:33,460 lập. Điều quan trọng là có tổ chức, có lòng dân, có 285 00:15:33,800 --> 00:15:36,070 tướng tài, có chiến lược đúng và có ý thức rõ ràng 286 00:15:36,160 --> 00:15:40,100 về chủ quyền. Trước sức ép của nhà Tống, Đại Việt không 287 00:15:40,340 --> 00:15:43,630 khuất phục. Trước nguy cơ xâm lược, Đại Việt không chờ bị 288 00:15:43,720 --> 00:15:47,040 động. Và trước chiến thắng, Đại Việt không sa vào hiếu chiến 289 00:15:47,700 --> 00:15:50,430 mù quáng. Đó là bản lĩnh của một quốc gia trưởng thành. 290 00:15:50,520 --> 00:15:53,050 Câu chuyện về Lý Thường Kiệt vì vậy không chỉ là câu 291 00:15:53,140 --> 00:15:56,470 chuyện của một vị tướng đánh giặc. Đó là câu chuyện về 292 00:15:56,560 --> 00:15:59,590 trí tuệ giữ nước. Đó là bài học về việc phải nhìn 293 00:15:59,680 --> 00:16:02,510 thấy nguy cơ từ sớm, phải chuẩn bị trước khi kẻ thù 294 00:16:02,600 --> 00:16:05,990 hành động, phải biết kết hợp sức mạnh quân sự với tinh 295 00:16:06,080 --> 00:16:09,390 thần chính nghĩa, và phải luôn nhớ rằng mục tiêu cuối cùng 296 00:16:09,480 --> 00:16:12,930 của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là hòa bình cho nhân 297 00:16:13,020 --> 00:16:15,750 dân. Hơn chín thế kỷ đã trôi qua, nhưng tên tuổi Lý 298 00:16:15,840 --> 00:16:19,030 Thường Kiệt vẫn còn vang trong lịch sử. Mỗi khi nhắc đến 299 00:16:19,120 --> 00:16:22,600 sông Như Nguyệt, người ta nhớ đến phòng tuyến đã chặn đứng 300 00:16:22,780 --> 00:16:25,570 quân Tống. Mỗi khi nhắc đến Nam quốc sơn hà, người ta 301 00:16:25,660 --> 00:16:29,110 nhớ đến lời khẳng định mạnh mẽ về chủ quyền nước Nam. 302 00:16:29,200 --> 00:16:32,170 Mỗi khi nói về nghệ thuật quân sự Việt Nam, người ta 303 00:16:32,260 --> 00:16:35,270 không thể bỏ qua chiến lược tiên phát chế nhân của ông. 304 00:16:35,360 --> 00:16:38,170 Lý Thường Kiệt đã sống một cuộc đời dài, phụng sự triều 305 00:16:38,260 --> 00:16:41,810 Lý và Đại Việt bằng tài năng, bản lĩnh và lòng trung 306 00:16:41,900 --> 00:16:44,730 thành. Ông ra đi, nhưng di sản của ông còn ở lại 307 00:16:44,820 --> 00:16:48,490 trong từng trang sử, từng địa danh, từng câu thơ khẳng định 308 00:16:48,580 --> 00:16:51,210 non sông. Với dân tộc Việt Nam, ông mãi là một trong 309 00:16:51,300 --> 00:16:54,150 những danh tướng kiệt xuất nhất, người đã dùng trí tuệ và 310 00:16:54,240 --> 00:16:57,290 gươm giáo để bảo vệ bờ cõi, để lại bài học lớn 311 00:16:57,380 --> 00:17:00,560 về cách một quốc gia nhỏ có thể đứng vững trước một 312 00:17:00,680 --> 00:17:03,170 đế quốc lớn. Nếu phải tóm gọn cuộc đời Lý Thường Kiệt 313 00:17:03,260 --> 00:17:05,930 trong một hình ảnh, đó là hình ảnh một vị tướng đứng 314 00:17:06,020 --> 00:17:09,610 bên bờ sông Như Nguyệt, phía trước là đại quân Tống, phía 315 00:17:09,700 --> 00:17:12,940 sau là kinh thành Thăng Long và vận mệnh Đại Việt. Trong 316 00:17:13,140 --> 00:17:16,130 khoảnh khắc ấy, ông không chỉ chỉ huy một trận đánh. Ông 317 00:17:16,220 --> 00:17:19,230 đại diện cho ý chí của một dân tộc: sông núi nước 318 00:17:19,320 --> 00:17:22,590 Nam là của người Nam, và bất cứ thế lực nào xâm 319 00:17:22,680 --> 00:17:23,100 phạm cũng