1 00:00:00,000 --> 00:00:01,280 và tổ chức quân đội. Đại Việt lúc ấy chưa 2 00:00:01,370 --> 00:00:03,680 phải một quốc gia rộng lớn như về sau, nhưng 3 00:00:03,770 --> 00:00:06,220 đã có nền tảng chính trị khá vững. Nhà Lý 4 00:00:06,310 --> 00:00:08,540 biết kết hợp giữa triều đình trung ương, lực lượng 5 00:00:08,630 --> 00:00:11,020 quý tộc, các tù trưởng miền núi và quân đội 6 00:00:11,110 --> 00:00:13,460 địa phương. Chính cấu trúc ấy giúp Đại Việt có 7 00:00:13,550 --> 00:00:15,440 khả năng huy động sức mạnh khi chiến tranh xảy 8 00:00:15,530 --> 00:00:17,900 ra. Một trong những đóng góp sớm của Lý Thường 9 00:00:17,990 --> 00:00:20,060 Kiệt là trong các hoạt động quân sự ở phía 10 00:00:20,150 --> 00:00:23,040 nam. Đại Việt và Champa có quan hệ phức tạp, 11 00:00:23,130 --> 00:00:27,900 lúc hòa hiếu, lúc xung đột. Năm 1069, vua Lý 12 00:00:27,990 --> 00:00:31,060 Thánh Tông thân chinh đánh Champa. Lý Thường Kiệt tham 13 00:00:31,150 --> 00:00:33,660 gia chiến dịch này và lập công lớn. Quân Đại 14 00:00:33,750 --> 00:00:36,120 Việt tiến sâu vào đất Chiêm, bắt được vua Champa 15 00:00:36,210 --> 00:00:39,680 là Chế Củ. Sau đó, Chế Củ phải dâng ba 16 00:00:39,770 --> 00:00:42,560 châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh để được 17 00:00:42,650 --> 00:00:45,120 tha về. Đây là một bước mở rộng lãnh thổ 18 00:00:45,210 --> 00:00:47,740 quan trọng về phía nam, đặt nền tảng cho quá 19 00:00:47,830 --> 00:00:49,960 trình Nam tiến lâu dài trong lịch sử Việt Nam. 20 00:00:50,050 --> 00:00:53,220 Chiến dịch Champa cho thấy Lý Thường Kiệt là người 21 00:00:53,310 --> 00:00:55,580 có kinh nghiệm quân sự thực tế trước khi bước 22 00:00:55,670 --> 00:00:58,860 vào cuộc đối đầu lớn với nhà Tống. Ông hiểu 23 00:00:58,950 --> 00:01:01,200 rằng chiến tranh không chỉ là xung phong đánh trận, 24 00:01:01,290 --> 00:01:04,140 mà còn là hậu cần, địa hình, tốc độ hành 25 00:01:04,230 --> 00:01:06,800 quân, sự phối hợp giữa thủy quân và bộ binh, 26 00:01:06,890 --> 00:01:09,400 cũng như cách kết thúc chiến tranh bằng điều kiện 27 00:01:09,490 --> 00:01:11,800 chính trị có lợi. Những kinh nghiệm ấy sau này 28 00:01:11,890 --> 00:01:14,510 trở thành nền tảng cho chiến lược chống Tống. Sau 29 00:01:14,810 --> 00:01:18,180 khi Lý Thánh Tông mất năm 1072, Lý Nhân Tông 30 00:01:18,270 --> 00:01:21,220 lên ngôi khi còn nhỏ. Triều đình do Thái hậu 31 00:01:21,310 --> 00:01:23,740 Ỷ Lan, Thái sư Lý Đạo Thành và các đại 32 00:01:23,830 --> 00:01:26,770 thần phụ chính. Trong bối cảnh vua còn nhỏ, nguy 33 00:01:26,950 --> 00:01:29,190 cơ từ bên ngoài trở nên nghiêm trọng hơn. Nhà 34 00:01:29,810 --> 00:01:31,580 Tống ở phương bắc lúc ấy đang dưới thời Tống 35 00:01:31,670 --> 00:01:34,160 Thần Tông, với tể tướng Vương An Thạch tiến hành 36 00:01:34,250 --> 00:01:36,750 cải cách để tăng cường sức mạnh quốc gia. Triều 37 00:01:37,030 --> 00:01:38,880 Tống gặp nhiều khó khăn ở phía bắc với Liêu 38 00:01:38,970 --> 00:01:41,380 và Tây Hạ, nhưng cũng muốn tạo thế chủ động 39 00:01:41,470 --> 00:01:44,040 ở phía nam. Đại Việt bị xem là mục tiêu 40 00:01:44,130 --> 00:01:46,260 có thể tấn công nhằm củng cố uy thế và 41 00:01:46,350 --> 00:01:48,580 giải quyết một phần áp lực chính trị nội bộ. 42 00:01:48,670 --> 00:01:51,480 Lý Thường Kiệt nhận ra nguy cơ ấy rất sớm. 43 00:01:51,570 --> 00:01:54,910 Đây là điểm làm ông trở nên đặc biệt. Nhiều 44 00:01:55,090 --> 00:01:57,220 người khi đối diện một đế quốc lớn thường chọn 45 00:01:57,310 --> 00:01:59,580 cách phòng thủ bị động, chờ đối phương kéo quân 46 00:01:59,670 --> 00:02:02,520 sang rồi chống đỡ. Nhưng Lý Thường Kiệt không nghĩ 47 00:02:02,610 --> 00:02:05,640 như vậy. Ông hiểu rằng nếu để nhà Tống chuẩn 48 00:02:05,730 --> 00:02:08,460 bị đầy đủ lương thảo, quân đội, kho tàng và 49 00:02:08,550 --> 00:02:10,840 căn cứ hậu cần ở biên giới, Đại Việt sẽ 50 00:02:10,930 --> 00:02:12,280 rơi vào thế bất lợi. Muốn giữ nước, đôi khi